vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:

Nghề dệt truyền thống có mặt tại rất nhiều các làng quê Việt Nam. Song có một làng nghề tuy không được nhắc đến nhiều nhưng lại được không ít người biết đến thông qua các trang viết của nhà văn Nam Cao. Làng dệt Vũ Đại, nay còn gọi là làng Nhân Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Khác với các làng nghề khác, làng dệt của quê hương nhà văn Nam Cao không có một sản phẩm đặc trưng, mà chủ yếu là các sản phẩm vải thô. Tuy nhiên cái đáng nói ở làng dệt Vũ Đại này chính là lòng thực sự yêu nghề, say nghề của mỗi người dân. Có thể nói đó là một yếu tố vô cùng quan trọng để mỗi làng nghề truyền thống được thúc đẩy, phát triển mà không sợ bị mai một. Ngày xuân chúng ta cùng trở về Vũ Đại để lắng nghe những chia sẻ tình cảm với nghề dệt của người dân nơi đây…


Ở làng Vũ Đại này, sinh ra ai cũng có sẵn một nghề: Nghề dệt. Hàng thế kỷ nay, có lẽ trước thời Chí Phèo, Thị Nở của nhà văn Nam Cao, rất lâu, nghề dệt đã ra đời và gắn chặt với đời sống người dân nơi đây.

Gần 50 năm lăn lộn với nghề truyền thống của làng, với  bà Trần Thị Mùi, nghề dệt đã trở thành một thứ tình cảm gần như máu thịt: "Tôi rất yêu cái nghề này, gần như máu thịt của mình. Những lúc mất điện, cả làng im ắng, không nghe thấy tiếng dệt chúng tôi thấy như thiếu vắng một cái gì, khi đi xa cũng nhớ về tiếng thoi dệt”.

Gắn bó với nghề, rồi yêu nghề…Song mỗi người dân làng dệt Vũ Đại  lại thể hiện tình yêu ấy theo những cách riêng.

Không khắc khoải nhớ về tiếng thoi mỗi khi đi xa như những người già như bà Mùi, thế hệ trẻ trong làng lại đau đáu với câu hỏi làm sao để phát triển làng nghề cha ông để lại, làm sao để nghề dệt không chỉ là để nuôi sống, mà còn là để làm giàu cho quê hương: “Tại sao có nghề truyền thống cha ông để lại cho đời con đời cháu của mình mà mình không làm được. Vì nghĩ thế nên tôi đã quyết tâm gầy dựng và đi sâu vào nghề này" - Anh Trần Bá Cường, Chủ DN dệt may Phú Cường bày tỏ.

Và không chỉ trăn trở, nhiều người đã tự tìm cho mình lời giải. Sinh ra tại làng Vũ Đại, Hà Nam, nhưng lại sống và làm việc tại Nam Định. Sau nhiều đắn đo, suy tính, cuối cùng ông Long lại quyết định trở về chính làng dệt của mình để lập nghiệp. Và công ty dệt may đầu tiên của làng Vũ Đại đã ra đời cách đây tròn 10 năm. Nhìn lại đến giờ, ông Long vẫn coi đấy là quyết định mang nhiều ý nghĩa và là niềm hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời ông. Ông Trần Thế Long, Tổng Giám đốc Công ty Dệt may Châu Giang: “Quê tôi từ xưa có nghề dệt truyền thống, song chưa có nền dệt công nghiệp hiện đại. Từ chuỗi ngày làm ăn manh mún nhỏ lẻ, từ khi có Châu Giang, người dân học hỏi được cách làm ăn phù hợp với thị trường hiện nay. Cho đến ngày hôm nay thì có rất nhiều công ty khác mọc lên và đặc biệt làng nghề cũng phát triển theo”.

Cùng với Châu Giang, hiện đã có hàng chục các công ty dệt may khác trong làng ra đời. Đấy là chưa kể đến các tổ hợp, các xưởng sản xuất đơn lẻ. Tính chung toàn làng, có khoảng gần 4000 khung dệt, thu hút tới trên 90% lao động của cả làng. Đồng thời giải quyết việc làm cho một lượng lao động không nhỏ của các làng xã lân cận.

Gần 60 tuổi, cái tuổi của sự nghỉ ngơi, cuộc sống lại tương đối đầy đủ, song bà Mùi vẫn nhất quyết giữ lại một khung dệt cho riêng mình: Không phải là để làm nghề, mà chỉ vì nhớ nghề không chịu nổi. Hàng ngày, tiếng thoi của bà Mùi vẫn hòa quyện vào những tiếng thoi rộn ràng trên khắp thôn làng ngõ xóm. Họ dường như  quên rằng mùa xuân đang về…

Theo hanam247.com

Thị trấn Vĩnh Trụ - Lý Nhân - Hà Nam nổi tiếng là nơi cung cấp bánh đa, bánh phở, miến ngon đi khắp các vùng trong cả nước. Nhưng cội nguồn của những sản phẩm ấy - có thể ít ai biết được - là làng nghề bánh đa truyền thống Phúc Hạ - xã Hợp Lý - huyện Lý Nhân - Hà Nam.


Phúc Hạ nằm bên một nhánh của con sông Hồng, có những bãi bồi xanh ngút ngát ngô và dâu tằm. Sinh hoạt của người dân nơi đây gắn chặt với sự hình thành và phát triển của nền văn minh lúa nước vùng đồng bằng Bắc bộ. Từ xa xưa, người dân Phúc Hạ đã biết sản xuất và chế biến nhiều nông phẩm từ lúa, gạo, hoa màu. Những sản phẩm từ nông nghiệp của Phúc Hạ đã xuất hiện từ thuở đất nước còn sơ khai, rồi qua thời chống quân Nguyên xâm lược. Phía trên Phúc Hạ là Phúc Thượng - đất võ. Phúc Thượng như người anh trai cả, có thân hình săn chắc, khỏe mạnh, thường ra trận đánh giặc bảo vệ đất nước. Người em gái là Phúc Hạ khéo léo, ở nhà lo ruộng vườn, cấy hái, đợi người anh của mình thắng trận trở về, mở hội khao quân. Nhờ có những ngày hội như thế, mà người em gái Phúc Hạ sáng tạo ra được rất nhiều sản vật từ hạt gạo, hạt ngô, củ rong riềng.,... để rồi dần dà hình thành làng nghề tráng bánh đa, thái miến Phúc Hạ, phát triển đã hơn 100 năm nay.

Theo Sông Châu

 Có lẽ mỗi chúng ta đều rất tự hào về đặc sản Hà Nam đó là món bánh cuốn nhưng ít ai trong chúng ta biết rằng món bánh cuốn ấy nguồn gốc từ đâu, ở đâu là tổ nghề của món đặc sản này, chỉ biết rằng đi đến đâu ở miền bắc Việt Nam thì hàng bánh cuốn ngon nhất chắc chắn là hàng của người Hà Nam. Mình nhớ cách đây 5 năm có đi nghỉ ở Sapa, buổi sáng ra chợ ăn bánh cuốn, hỏi ra mới biết chị bán hàng ở làng Cắt Lại gần nhà mình. Làng Cắt Lại chỉ cách làng Ô mễ của mình một con mương, đây là một làng lớn chạy bao quanh phía nam xã Bình Nghĩa, Bình Lục. Làng  có nghề truyền thống làm bánh cuốn, khi con gái làng này lấy chồng ở đâu thì ở đó hình thành một cơ sở sản xuất bánh cuốn. Thực ra sẽ không có nhiều điều để nói nếu không phải mình có một bà cô kết nghĩa của gia đình làm nghề tráng bánh cuốn ở làng này, giờ cô đã mất nhưng ấn tượng về những bữa bánh cuốn ngon tuyệt mà cô mang cho thì mình vẫn còn nhớ mãi. Hôm nay tình cờ search về Hà Nam mình đọc được bài viết về làng nghề bánh cuốn này, xin chia sẻ cùng các bạn.


Men theo con đường nhỏ gồ ghề sỏi đá, làng Cắt Lại (xã Bình Nghĩa, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) nằm thu mình bên dòng sông Châu êm đềm, nơi đã đưa món bánh cuốn Cắt Lại trở nên nổi tiếng khắp cả nước.

“7 bước 4 vị”

Cụ Xuân, 88 tuổi, một trong những người làm bánh đầu tiên ở Cắt Lại, cho biết, phải trải qua “ 7 bước 4 vị”, chứng kiến tận mắt cách làm bánh mới thấy được sự kì công của người thợ Cắt Lại khi cho ra lò một thang bánh cuốn ngon. Theo cụ Xuân, nguyên liệu chính để làm bánh cuốn là gạo tẻ như C70, Khang Dân… “Phải chọn lựa gạo thật kĩ sao cho những thang bánh sau khi ra lò không bị bở, vụn mà phải dẻo dai mà vẫn giữ được độ xốp của bánh chính là bí quyết tạo nên thương hiệu bánh cuốn Cắt Lại từ bao đời nay”, cụ Xuân cho biết.

Nhà cụ Xuân giờ vẫn dùng chiếc cối đá để xay gạo, nhưng lúc nào nhớ nghề xưa, cụ cùng các con mới làm bánh theo cách gia truyền. Cụ Xuân bảo: “Làm bằng máy thì nhanh nhưng khi ăn sẽ không đậm đà như làm theo cách người xưa dạy được”.  Muốn có một thang bánh cuốn ngon phải trải qua 7 công đoạn chính, từ chọn gạo tới ngâm, rồi xay đều thành bột…lại ngâm, ngâm xong lại vắt nước lấy bột, ép bột -  rồi mới đem tráng bánh.Khâu ngâm gạo được người dân làng Cắt Lại chú ý và quan tâm nhất. Trong đó, ngâm lần thứ nhất (24 giờ) chỉ để gạo nở hết cỡ rồi mang đi xay đều thành bột. Ngâm lần thứ hai là quan trọng nhất, ngâm bột cho lên men, tính toán thời gian sao cho không để bột vừa chua nếu quá, bột bị đóng bánh là hỏng cả mẻ.

Bột ngâm lên men xong, phần việc tiếp theo phụ thuộc vào sức lực của người đàn ông, phải chắt nước lấy bột - rồi cho bột vào thau đánh nhuyễn đến khi nào bột tráng thành bánh được mới xong.

Lửa tráng bánh phải đều, nhiệt độ trong nồi hấp được các thợ tráng bánh rất lưu tâm bởi chỉ cần lơ là một chút là bánh chín nhanh bở, không đủ độ dẻo dai… mẻ bánh đó coi như lỗ nặng.

Làm bánh đã khó, nhân bánh rồi nước mắm chấm còn khó hơn. Chính những gia vị tưởng chừng như đơn giản nhưng lại rất khó chiều lòng thực khách. Theo cụ Xuân, nước chấm phải pha từ loại mắm ngon, thêm chút nước sôi để nguội, với tỏi, ớt…và nắm rau thơm nữa là thành bộ tứ.

Thương hiệu dần được khẳng định

Cho đến nay, những hộ làm bánh cuốn theo phương pháp truyền thống trong làng Cắt Lại chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Tuy nhiên, bánh cuốn Cắt Lại không vì thế mà giảm độ hấp dẫn. Để kịp giao bánh cho các lái buôn, các cửa hàng bánh cuốn trong tỉnh phải ngâm bột từ ngày hôm trước, bánh cuốn cứ thế gối nhau ra lò. “Tính trung bình mỗi ngày nhà tôi làm được khoảng 3 tạ bánh, lãi lờ cũng đủ cho các cháu ăn học”, ông Trần Văn Phố, 71 tuổi, hứng khởi kể. Cả làng Cắt Lại có gần chục máy tráng bánh, tính ra mỗi ngày làng cung cấp ra thị trường hơn 30 tạ bánh .

Thị trường Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên chiếm tới 70% lượng bánh, còn lại là các mẹ, các chị…đưa bánh ra chợ bán lẻ mỗi sáng tinh mơ. Bán buôn tại nhà giá khoảng 50.000 đồng một yến. “Bánh làng chúng tôi có bí quyết riêng, sau khi ra lò bánh cuốn có thể giữ được 12 giờ mà vẫn giữ được mùi vị, và độ dẻo dai”, bà Trần Thị Xa ( 73 tuổi) tâm sự.

Làng Cắt Lại với hơn 200 hộ thì có tới 80% là theo nghề các cụ để lại nhưng vẫn sản suất theo kiểu tự cung tự cấp, làm ăn manh mún tiêu thụ theo thị trường. Tháng 9/2009, làng vinh dự được công nhận là làng nghề truyền thống, đây là một niềm động viên khích lệ các hộ gia đình trong làng tiếp tục lưu giữ và phát triển nghề cha ông để lại. Giờ thương hiệu bánh cuốn Cắt Lại đã vang xa trong ngoài tỉnh. Tuy nhiên, theo cụ Xuân để xây dựng được một thương hiệu vững mạnh thì làng nghề cần được những định hướng cụ thể hơn để phát triển tốt hơn.


Theo Sông Châu / Báo Đất Việt

Làng nghề Nhật Tân (xã Nhật Tân, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) là làng đa nghề, được UBND tỉnh công nhận là làng nghề từ năm 2004. Những năm gần đây, làng nghề phát triển mạnh với nguồn thu nhập mũi nhọn là từ tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ.


Hiện nay, làng Nhật Tân có 3 nghề chính là: dệt, mộc, mây giang đan cùng một số nghề khác như: gò, hàn, đúc xoong, thêu ren và dịch vụ. Chỉ tính riêng nghề dệt vải truyền thống đã thu hút được 1/5 số lao động tại địa bàn. Sản phẩm dệt những năm gần đây đạt giá trị sản xuất khoảng hơn 40 tỷ đồng, nghề mây giang đan đạt gần 1 triệu sản phẩm mỗi năm. Trên địa bàn hiện có hơn 120 cơ sở mộc, thu hút trên 200 lao động tham gia với các sản phẩm đạt chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường. Đặc biệt, nghề khảm trai, sơn mài gắn trứng tại làng nghề đang có chiều hướng phát triển tốt, thu hút được nhiều lao động tham gia học nghề. Việc làng nghề đẩy mạnh phát triển nghề truyền thống và tiếp thu nghề mới đã giúp duy trì sản xuất kinh doanh, giải quyết được việc làm, tạo nguồn thu nhập ổn định cho lao động tại địa phương. Ngoài ngành nghề chính, xã Nhật Tân cũng định hướng phát triển các dịch vụ thương mại, phục vụ sản xuất của làng nghề.
Làng nghề Nhật Tân đang tích cực khắc phục khó khăn, tận dụng và phát huy triệt để điều kiện thuận lợi có được là sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ cùng với sự giúp đỡ của các ngành chức năng của huyện. Trên cơ sở phát huy nội lực, Đảng uỷ xã đã có nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, trong đó mũi nhọn là phát triển ngành nghề, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Uỷ ban nhân dân xã Nhật Tân đã xây dựng kế hoạch cụ thể phối kết hợp cùng Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân triển khai nhiệm vụ phát triển ngành nghề truyền thống trên địa bàn, đồng thời duy trì nghề mới hoạt động có hiệu quả.

Theo Lan Anh (Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam)

Trong cái rét ngọt cuối mùa đông, xe tôi bon bon đi trên con đường làng đổ bê tông phẳng lỳ tiến thẳng đến thôn Đô Quan, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, nơi có nghề làm đậu nổi tiếng khắp vùng gần xa.


Nhưng thật là lạ, khi vào tận trong làng, hầu như nhà nào cũng đóng cửa, chẳng thấy ai ra đường, hay làm một việc gì đó ở ngoài vườn, ngoài sân. Thấy tôi có vẻ thắc mắc, ông Trần Xuân Nẫm, Bí thư chi bộ, Trưởng thôn cười bảo: “Thôn Đô Quan chúng tôi có 177 hộ, thì có tới 150 hộ làm nghề đậu phụ, công việc của họ chủ yếu làm từ đêm khuya hôm trước cho đến tờ mờ sáng hôm sau để cho ra những mẻ đậu còn nóng hổi bán ra thị trường. Vì thế ban ngày các gia đình này đều ngủ bù để lấy sức chuẩn bị cho những mẻ đậu mới, chỉ rất ít trong số họ ra đồng hay làm những công việc khác, nếu không phải vào vụ”.

Theo ông Nẫm, thì nghề làm đậu của làng có từ rất lâu đời, các cụ cao niên cũng không ai tỏ tường. Chỉ biết rằng nghề làm đậu là nghề cha truyền con nối từ đời này qua đời khác, đến nay vẫn giữ gìn và phát triển. Những bìa đậu phụ trắng muốt, vuông cạnh, mềm và béo ngậy đã đi khắp các miền quê, lên tận thủ đô Hà Nội và trở thành món ăn không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày, đặc biệt là trong những ngày tết. Để tìm hiểu rõ hơn về nghề làm đậu, tôi đến thăm gia đình chị Phạm Thị Chủ và anh Phạm Văn Tú một trong những gia đình làm đậu khá lâu năm trong làng. Gia đình chị làm đậu từ năm 1982, đến nay đã gần 30 năm. Làm nghề này khá vất vả, thường thì gia đình chị phải bắt đầu làm từ lúc 11 giờ đêm để vo đậu, xay đậu, gói đậu… cho tới 5h sáng ngày hôm sau mới xong các công việc. Công đoạn làm ra những bìa đậu lại càng tốn công và phức tạp. Muốn có đậu ngon, trước tiên phải chọn được loại đỗ tương đều hạt, vỏ mỏng, nhẵn bóng, không bị sâu mọt, rắn, giòn, cắn vỡ đôi lộ ra nhân vàng đều. Chọn được loại đỗ tương như thế mới đạt chất lượng. Nhất là mua được loại đỗ tương trồng 6 tháng có độ bột cao hơn đỗ tương trồng ba tháng, cứ mỗi một kg đỗ làm được từ 2,2 đến 2,3 kg đậu. Đỗ được sàng xảy, bỏ vỏ và được ngâm trong nước sạch ba tiếng đối với mùa hè, từ 4 đến 5 tiếng đối với mùa đông. Sau đó, đỗ được vớt ra đãi sạch nước chua, đem đỗ tương xay trong cối đá để lấy nước cốt đậu, một thứ nước đậu trắng như sữa được đổ vào túi vải bằng sợi và cho lên máy vắt, đây là công đoạn quan trọng vì càng lọc kỹ nước đậu càng tinh và ngon. Nước đậu đã được lọc cho vào chảo gang đun sôi, khi đun phải đều lửa, vì nếu để lửa quá lớn đậu sẽ bị khê, cháy và khô còn nếu đun nhỏ lửa miếng đậu làm ra sẽ bị bở và không ngon, thậm chí hỏng cả nồi đậu. Bí quyết để đậu có vỏ dai mà ruột vẫn mềm thì khâu pha chế nước chua cho vào đậu là khâu quan trọng nhất. Nước chua được chế từ giấm và chanh hoặc nước chắt ra từ đậu để lên men, nếu pha chua quá đậu sẽ cứng, không đủ độ chua đậu khó ép. Quá trình pha đòi hỏi phải có kỹ thuật, tay nghề lâu năm mới đạt đến độ ngon, ngậy của đậu.

Sau khi nước đậu lắng xuống và kết thành óc đậu, nước trong nồi được gạn đi, lúc đó mới gói vào khăn vải mỏng. Khăn gói đậu phải được thấm ướt và tiệt trùng bằng nước nóng để dễ gói. Muốn có miếng đậu chắc phải để khăn chéo cho óc đậu vào nâng lên đặt xuống vài lần cho óc đậu cân đều và thả vào khuôn. Loại khuôn này vừa dùng để gói vừa dùng để ép, nhìn bề ngoài giống hai miếng gỗ hình chữ nhật được gắn vào nhau và để hở một khoảng đúng bằng chiều rộng của miếng đậu, khuôn có thể tháo lắp từng phần để thuận lợi cho quá trình ép và dỡ đậu ra. Khi các công đoạn kết thúc cũng là lúc gia đình chị Chủ làm được khoảng 70 kg đậu trong một ngày và lúc này anh Tú chồng chị lại có nhiệm vụ chở những bìa đậu còn nóng hổi đi đổ buôn cho các quán ăn và những chủ hàng bán lẻ ở thành phố Hưng Yên ngay trong buổi sáng ngày hôm đó, với giá bán buôn từ 7000 đến 8000 đồng/kg. Mỗi ngày gia đình chị Chủ, anh Tú thu về 600 ngàn đồng, trừ chi phí còn lãi hơn hai trăm ngàn đồng.

Nghề làm đậu phụ công phu và vất vả là vậy, nếu không có lòng yêu nghề thì không thể làm ra những bìa đậu ngon để bán ra thị trường. Tuy nhiên so với những năm trước kia, thì hiện nay làm đậu đã nhàn hơn rất nhiều, đều sử dụng bằng máy, chỉ cần cắm điện là có thể xay, vắt đậu dễ dàng. Anh Tú chồng chị Chủ tâm sự: “Trước những năm 1990, các hộ làm đậu phụ của làng đều phải làm thủ công bằng tay, nên số lượng đậu làm ra trong ngày ít chỉ đủ bán ở chợ quê. Hơn nữa do làm thủ công đòi hỏi thời gian dài mới xong, mẻ đậu thường thì làm từ đêm hôm trước sang hôm sau mới bán nên chất lượng đậu không ngon hay bị chua, lãi chẳng được bao nhiêu, đời sống gia đình vẫn khó khăn, bây giờ thì hiện đại nhiều rồi…”.

Không chỉ làm đậu, phong trào chăn nuôi ở Đô Quan cũng phát triển không kém, vì tận dụng bã đậu để chăn nuôi nên nhà nào cũng nuôi khá nhiều lợn. Ngoài gia đình chị Chủ còn nhiều gia đình khác như gia đình ông Sơn Quyền, ông Pheo, ông Hinh vừa làm đậu, lại nuôi từ 30 đến 40 con lợn thịt, hàng năm thu từ chăn nuôi khoảng 40 triệu đồng trở lên. Nhờ cần cù, chăm chỉ làm ăn, giờ đây đời sống của người dân Đô Quan được nâng lên rõ rệt. Người dân trong thôn đã làm giàu từ chính cái nghề mà cha ông truyền lại.

Theo  (Cổng TTĐT Hà Nam)

      Đóng góp vào sự độc đáo cùng với hơn 40 làng nghề tại Hà Nam, làng Vọc ở huyện Bình Lục là một làng nghề nổi tiếng với rượu Vọc. Về thăm làng Vọc ta sẽ được thấy cuộc sống no ấm cùng với nghị lực vươn lên của người dân vùng đất chiêm khê mùa thối.


Làng nghề rượu Vọc thuộc xã Vũ Bản được coi là làng thịnh vượng hơn cả nhờ có nghề nấu rượu gạo truyền thống. Ngoài công việc chính làm ruộng, hầu hết các gia đình trong làng đều tham gia ít nhiều vào nghề này: hoặc làm men, buôn bán men, nấu rượu hay mở cửa hàng bán rượu.

Từ bao đời nay, người làng Vọc chỉ trung thành với một công thức chưng cất rượu. Rượu được nấu bằng gạo đặc sản ủ với men ta gồm 36 vị thuốc Bắc. Công đoạn làm rượu rất công phu. Từ lúc úp men phải trải qua 2 – 3 ngày, chờ khi men dậy mới được mở. Cơm rượu nấu chín vừa, không khô hoặc nhão quá, đánh tơi để nguội trước khi rắc men, sau đó cho vào vò sành ủ 48 tiếng, khi có mọng mới được đổ nước, sau 2 đêm thì đem nấu.

Từ lâu người làng Vọc đã xây dựng được hương ước bảo vệ và giữ gìn bí quyết gia truyền. Quy ước quy định rõ ràng về chất lượng rượu cổ truyền làng Vọc, rượu chỉ dùng men thuốc Bắc, nấu với gạo đặc sản của quê hương, nghiêm cấm việc sản xuất rượu kém chất lượng làm ảnh hưởng đến uy tín của làng. Hiện nay có nhiều công nghệ sản xuất rượu hiện đại nhưng người làng Vọc vẫn cất rượu theo phương pháp cổ truyền. Cầm chai rượu trong veo, chỉ cần mở nút hoặc lắc nhẹ, những bọt rượu chạy quanh chai bám chặt với nhau toả ra hương thơm ngào ngạt.

Nói tới rượu làng Vọc, không ai không nhắc tới thương hiệu Vọc Long Tửu của gia đình ông Nguyễn Văn Long, người đã có công lớn trong việc vực dậy danh tiếng của rượu làng Vọc trước sự suy giảm chất lượng men và sự tấn công ồ ạt của các loại rượu ngoại cùng nhiều sản phẩm đồ uống trên thị trường. Sinh ra trong gia đình theo nghề nấu rượu lâu đời, ông Long rất buồn khi thấy rượu quê mình ngon mà chỉ bán quanh quẩn mấy vùng lân cận. Ông quyết định phải xây dựng một thương hiệu cho rượu Vọc để có thể tự tin mang sản phẩm quê mình đi xa hơn nữa, đó là thương hiệu Vọc Long Tửu.

Hiện nay, Vọc Long Tửu đang có mặt trên thị trường cả nước nhất là các thành phố lớn như: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và được du khách mua làm quà mang sang các nước Nhật, Đức, Pháp, Nga... để làm quà và quảng bá thương hiệu. Vọc Long Tửu đã đoạt được nhiều giải, cúp vàng về chất lượng và mẫu mã cùng nhiều câu thơ ca tụng.

Cùng với bí quyết gia truyền và sự chịu thương, chịu khó của người dân làng nghề, làng Vọc còn được thiên nhiên ban tặng cho một nguồn nước quý để tạo nên sản phẩm rượu Vọc có hương vị đặc trưng mà những nơi khác không thể có được dù có cùng bí quyết nấu rượu.

Nhờ sự giáo dục qua nhiều thế hệ làng nghề về cái tâm trong sáng nên dù trong thời kỳ cạnh tranh gay gắt nhưng rượu Vọc vẫn giữ được hương vị đậm đà, không phai lẫn với hàng trăm thứ rượu đang có mặt trên thị trường. Đặc biệt, để đảm bảo vệ sinh, rượu chỉ đóng trong vò sành, nậm gốm chứ không đựng trong can hoặc chai nhựa. Được khách hàng gần xa biết đến, nhất là trong thời kỳ hội nhập WTO, thị trường rượu Vọc ngày càng mở rộng. Trước đây, làng chỉ bán ra thị trường 1 triệu lít /năm, nay tăng lên gấp 2 lần. Nhờ rượu, mỗi năm Vũ Bản đạt giá trị thu nhập 22 – 25 tỷ đồng. Hương rượu Vọc đã bay tới Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, là món quà không thể thiếu của những người con xa quê hương. Nhờ làm rượu mà làng Vọc đã thay da đổi thị, đường làng ngõ xóm được bê tông hoá, nhà cao tầng mọc lên san sát, làng không còn hộ đói, hộ khá giàu tăng mạnh.

Năm 2006, rượu Vọc đã đoạt giải nhất về mẫu mã và giải nhì về chất lượng tại Hội thi tuyển chọn các sản phẩm làng nghề truyền thống do Bộ Văn hoá - Thông tin tổ chức. Đầu năm 2007, rượu Vọc được tặng Bằng khen tại Hội chợ triển lãm thương mại của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Với giá trị văn hoá ẩm thực cùng bề dày truyền thống của làng, ngày 10/5/2007, làng đã được đón nhận danh hiệu “Làng nghề rượu Vọc” theo quyết định của UBND tỉnh. Không những thế, dự án đăng ký nhãn hiệu tập thể rượu Vọc với Cục Sở hữu trí tuệ cũng sẽ sớm được hoàn thiện và triển khai thành công trong thời gian tới . Đây sẽ là bước đệm để rượu Vọc vươn xa hơn nữa.

Các cấp lãnh đạo xã Vũ Bản đã đưa ra chủ trương coi làng nghề rượu Vọc là vùng kinh tế trọng điểm của xã. Để giữ gìn, phát huy nghề truyền thống, chính quyền địa phương sẽ dồn sức đầu tư, khai thác triệt để tiềm năng thế mạnh của làng, nhất là trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Dự kiến, xã sẽ khởi công xây dựng nhà máy sản xuất chế biến rượu Vọc với tổng vốn đầu tư 2 tỷ đồng, đồng thời dành khoảng 100 ha để trồng các giống lúa đặc sản cung cấp cho làng nghề.

     Với sự quyết tâm phát triển nghề của những người dân làng Vọc như ông Long cùng thương hiệu Vọc Long Tửu và cùng với sự quan tâm của các cấp chính quyền như trên, rượu Vọc đã trở thành đặc sản quý không chỉ của Hà Nam. Niềm tự hào đó nhắc nhở người làng Vọc càng phải có trách nhiệm trong việc giữ gìn bản sắc truyền thống của làng nghề, để rượu Vọc chiếm lĩnh được thị trường, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển./.

(Nguồn: hanam.gov.vn)

Đan mây tre ở Ngọc Động Xã Hoàng Đông (Duy Tiên) có diện tích tự nhiên gần 7km2, dân số 6.894 người. Xã có 6 thôn, nơi đây có nghề mây tre đan truyền thống. Trong khi nhiều làng nghề truyền thống gặp không ít khó khăn thì nghề mây tre đan ở đây lại đang trên đà phát triển.


Ngày mới ra đời, ở đây chủ yếu sản xuất ghế mây. Sản phẩm này ngay lập tức được nhiều người chấp nhận bởi mẫu mã đẹp lại phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Càng ngày tiếng tăm của làng nghề càng vang xa, người về đặt mua sản phẩm, người bán nguyên liệu ngày một tấp nập.

Lúc Bác Hồ còn sống, dân làng Ngọc Động đã biếu người một bộ phô tơi (gồm 6 chiếc ghế salon và 1 chiếc ghế chao). Bộ salon này được Bác kê ở nhà sàn để tiếp khách. Đại sứ quán nước cộng hoà DCND Triều Tiên cũng đã về Ngọc Động đặt mua 1 bộ salon cho chủ tịch Kim Nhật Thành.

Cũng như nhiều làng nghề khác, nghề mây tre đan ở Ngọc Động đã gặp không ít khó khăn khi chuyển đổi cơ chế. Song lớp thợ Ngọc Động đã trăn trở tìm cách nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã tìm kiếm thị trường ở Tây Âu và các nước Đông Nam Á. Nhờ vậy làng nghề đã trụ vững và đi lên.

Nguyên liệu cung cấp cho làng nghề là 2 thứ cây có nhiều ở nước ta: cây giang và cây mây. Các sản phẩm như bát, đĩa, khay, lọ hoa, lọ độc bình, lãng hoa hiện nay rất đa dạng về chủng loại và mẫu mã. Có những lọ độc bình cao đến 1,8m, giá xuất xưởng xấp xỉ 500.000đ.

Hiện nay ở Ngọc Động, mô hình sản xuất theo hộ gia đình là chính, tuy nhiên việc tiêu thụ sản phẩm lại phải thông qua một số người. Điều này thường gặp nhiều ở làng nghề. Những người này có vốn, nắm bắt được thông tin nên họ đứng ra đặt hàng rồi thu gom hàng để bán.

Nghề mây tre đan ở đây có ưu điểm là: vốn ít (chỉ cần từ 300.000 - 500.000đ là tạm đủ cho một hộ 4 người sản xuất), tận dụng được lao động phụ đặc biệt là trẻ em và người già, thu nhập cao (thợ kỹ thuật bậc cao khoảng 25.000 - 30.000đ/ngày, lao động phổ thông cũng đạt 10.000 - 15.000đ/ngày).

Nghề truyền thống đã mang lại cho Ngọc Động những lợi ích kinh tế rõ rệt không thể phủ nhận được. Ngoài ra, những lợi ích khác về xã hội mà làng nghề đem lại cũng không thể tính đếm hết, như đẩy lùi các tệ nạn xã hội, trẻ em ngoài việc học hành còn tham gia giúp gia đình làm thêm việc đan lát. Những nghệ nhân cao tuổi thì sáng tạo mẫu mã, kiểu dáng; người già, trẻ em thì làm nan; những ông chủ thì mua gom sản phẩm, tìm kiếm những hợp đồng có giá trị kinh tế; những người trực tiếp làm ra sản phẩm thì phơi, sấy; những người thợ khai thác lại chuẩn bị cho những chuyến đi…

Làng nghề ở Ngọc Động đã tồn tại qua bao thăng trầm. Lớp thợ hôm nay dám nghĩ dám làm để những sản phẩm của mình tiếp tục nối tiếp truyền thống của những người đi trước. Sản phẩm mây tre đan Ngọc Động được khẳng định chẳng những trên thị trường trong nước mà còn cả ở nước ngoài. Đó là một niềm vui không những của riêng người dân Ngọc Động mà còn là niềm tự hào của ngành TTCN tỉnh Hà Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh đó còn những nỗi lo về ô nhiễm môi trường, về hoả hoạn. Ngọc Động mong muốn các cấp các ngành có biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hạn chế thấp nhất hoả hoạn có thể xảy ra. Được như vậy, những người dân của Ngọc Động sẽ có điều kiện đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.

(Nguồn: hanam.gov.vn

Một anh bạn người Nhật khi sang thăm Việt Nam đã nhất định nhờ tôi mua giúp cho một bộ ấm trà làm từ gốm Quế. Hóa ra sau một lần được thưởng thức trà trong một bộ ấm trà gốm Quế, anh và nhiều người bạn Nhật đã nhận thấy khả năng giữ nhiệt tốt và khử được dư lượng các loại thuốc bảo vệ thực vật, cho hương vị trà đậm đà rất đặc trưng của loại ấm này. Thế mới biết “hữu xạ tự nhiên hương” bởi nói chung đồ gốm đất nung, gốm son, gốm sành của làng Quế (huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) không mang vẻ sang trọng, đài các về hình thức. Được tạo dáng trên bàn xoay, không phủ men và được trang trí đơn giản thông qua kỹ thuật chạm chìm, đắp nổi... các công đoạn tưởng chừng như đơn giản ấy lại được những người thợ nơi đây chọn làm phương cách để tạo ra vẻ quyến rũ tự nhiên của gốm. Những người thợ gốm ở đây luôn thận trọng trong từng khâu khai thác và xử lý đất, tạo dáng, hoa văn cũng như dành từ 12-15 ngày cho công đoạn nung mới hy vọng có được một sản phẩm hoàn thiện. Nguồn nguyên liệu đất sét vàng chất lượng cao tại địa phương có khả năng tự chảy men tự nhiên khi được nung ở một nhiệt độ nhất định cho phép đa dạng hóa sản phẩm.


Làng gốm Quế (thuộc làng Đanh Xá xưa), nằm ở hạ nguồn sông Đáy, thuộc huyện Kim Bảng, Tỉnh Hà Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 60 km về phía Nam là một trong số các làng gốm lâu đời của Việt Nam. Đến làng Quế, điều đầu tiên có thể quan sát được là sự thanh bình của môt vùng làng quê cổ, những khu lò bầu tập trung và các mặt hàng gốm rất đa dạng do những người thợ gốm của nhiều thế hệ ở đây làm ra. Trên địa bàn làng gốm Quế có hợp tác xã gốm Quyết Thành và gần 20 cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ gốm, đã thu hút được trên 500 lao động và có khả năng sản xuất được trên 200 m3 sản phẩm mỗi tháng, cho doanh số khoảng 10 tỷ đồng/năm và đem lại với mức thu nhập ổn định cho người lao động trên 5 triệu đồng/người/năm. Bằng tài năng được hun đúc, cộng với tấm lòng yêu nghề, yêu nghệ thuật, những người thợ gốm Quế đang ngày càng làm ra nhiều sản phẩm đẹp hơn và tốt hơn để phục vụ cho nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Không chỉ những bộ ấm chén uống trà, các sản phẩm gốm đất nung đa dạng của làng Quế như chậu trồng hoa, bình đựng, các loại chum, vại, tượng… đã có mặt ở rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới như Đài Loan, Đan Mạch, Nhật, Mỹ, Hung-ga-ri…

Tham gia buổi lễ rước thần lửa đầu năm tại địa phương để tôn vinh truyền thống làng nghề, anh bạn người Nhật của tôi cảm nhận được tính nhân văn của một làng gốm cổ. Anh bảo gốm làng Quế có duyên, mà là nét duyên ngầm như ẩn chứa vẻ đẹp và nụ cười của những cô gái quê Việt Nam dung dị ./.

 theo langnghe.org

Từ cách đây hơn 100 năm, người dân Thanh Hà đã làm quen với đường kim, sợi chỉ và cuộc sống của họ chẳng biết tự bao giờ đã gắn liền với nghề thêu ren. Không ai biết chính xác là ai đã đem nghề thêu ren về, chỉ biết rằng toàn xã có hơn 8.000 lao động thì đã có đến hơn 6.500 lao động làm nghề.


Xã Thanh Hà nằm ở ven đường Quốc lộ 1A thuộc Huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, cách thị xã Phủ Lý khoảng 10 km về phía nam. Thanh Hà có hai thôn chính làm nghề thêu đó là Thôn An Hoà và thôn Hoà Ngãi, đem lại doanh thu mỗi năm gần 2 triệu USD.

Nhìn những người thợ Thanh Hà thêu có cảm giác như nghề thêu sao mà đơn giản thế, chỉ cần đưa mũi kim lên xuống thế là xong, nhưng quan sát kỹ hơn thì mới thấy là nghề thêu mới thật kỳ công bao gồm nhiều công đoạn trước khi thêu thành sản phẩm, từ việc vẽ những hoạ tiết cần thêu ra giấy, sau đó lại đem hoạ tiết đó trổ vào tấm mica mỏng, nếu muốn mẫu thêu đẹp trước hết mẫu trổ phải đẹp, để rồi sau đó người thợ mang mẫu đã được trổ trên tấm mica mỏng đặt trên tấm vải cần thêu rồi lấy mực quét lên để lại dấu trên vải sau đó mới bắt đầu thêu.

Đối với mỗi người thợ Thanh Hà, mỗi mũi thêu đều đem đến cho họ nguồn cảm hứng vô tận. Dưới đôi bàn tay khéo léo, những cánh hoa cứ dần hiện lên sống động dù để trang trí vào giữa tấm nệm hay góc khăn tay. Những cánh hoa cũng tạo ra các đường viền trang trí thanh nhã và lãng mạn dọc hàng ngang khăn trải dường, và những tấm màn cửa, chúng cũng có thể được thêu rải rác ngẫu nhiên gợi cho ta nhớ lại những mẫu quần áo thêu hoa giản đơn từ những năm đầu của thế kỷ XVIII… Tất cả đã tạo dựng nên một không gian thêu với đủ loại hoa muôn sắc khoe màu.

Từ khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, làng nghề Thanh Hà ngày càng mở rộng về không ngừng phát triển. Những năm 80 là thời gian thịnh vượng của làng nghề: sản phẩm đa dạng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, xuất khẩu sang Liên Xô và các nước Đông Âu. Những năm 90 đến nay, trong điều kiện thị trường truyền thống bị thu hẹp và thị trường nước ngoài lại đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng và thời gian các mặt hàng thêu truyền thống của Thanh Hà vẫn không ngừng phát triển. Nghề thêu Thanh Hà hiện nay không chỉ được những nhà kinh doanh Đông Âu biết đến mà cả những nhà kinh doanh nước ngoài khác như Pháp, Ý, Nhật... về trực tiếp để đặt hàng. Với xu thế phát triển như hiện nay, các doanh nghiệp thêu ở Thanh Hà không những đảm bảo duy trì các thị trường truyền thống mà còn mong muốn tiếp tục đưa những sản phẩm thêu của mình đến những thị trường mới.

Về Thanh Hà hôm nay, chúng ta càng tin tưởng hơn ở lớp thợ mới đang đứng vững và tự khẳng định mình trong cơ chế thị trường. Họ đang thổi hồn mình vào các bức tranh, nâng những sản phẩm của một nghề thủ công lên thành những tác phẩm độc đáo.

Nói đến Hà Nam, người ta thường nói đến mảnh đất với tên của những làng nghề dệt đã trở nên rất đỗi thân thuộc như Nha Xá, Đại Hoàng, Nhật Tân… với đủ các chất liệu dệt khác nhau từ tơ lụa, sợi bông đến các loại sợi tổng hợp…, là cầu nối không thể thiếu cho sự phát triển của nhiều ngành kinh tế của đất nước.


Nằm dọc bên dòng sông Đáy với những cánh đồng dâu xanh ngát là làng dệt lụa Nha Xá (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên), một làng dệt lụa được mệnh danh là Á Hậu của Việt Nam được hình thành từ đầu thế kỷ XIII gắn liền với tên tuổi vị Thành Hoàng Trần Khánh Dư, người đã có công dạy cho dân làng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa.

Từ những năm đầu thế kỷ, những súc tơ lụa nõn bóng, mượt mà của vùng quê Nha Xá đã chinh phục được hầu hết các thị trường lớn cả nước. Cái hồn của lụa tơ tằm Nha Xá chính là hồn của thiên nhiên, trong sắc có độ trong, độ đục, có sự lấp lánh dưới ánh nắng trời… Khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, làng nghề càng nhộn nhịp hơn và quy mô sản xuất của làng nghề tiếp tục được mở rộng theo hướng công nghiệp. Nhiều gia đình tiếp tục đóng thêm máy dệt, hoặc đầu tư thay khung gỗ bằng khung sắt để làm ăn lâu dài. Đặc biệt người làng dệt nhanh nhạy với thị hiếu người tiêu dùng luôn chuyển đổi mặt hàng. Nhiều mặt hàng mới ra đời như hàng đũi, hàng tơ se, hàng lụa hoa, hàng lụa trơn, hàng lanh… và chất lượng, mẫu mã sản phẩm tiếp tục được nâng cao. Từ Nha Xá, nghề dệt đã lan rộng đến nhiều vùng như Lảnh Trì, Chuyên Ngoại, Hoà Mạc, Đồng Văn… tạo việc làm và thu nhập cho hàng trăm gia đình.

Rời Nha Xá, chỉ gần 20 phút đi xe là bạn đến với làng dệt Nhật Tân của huyện Kim Bảng. Tiếng những khung dệt đều đều chen lẫn tiếng đục chạm gỗ đâu đây tạo nên bức tranh nhộn nhịp của một làng quê đa nghề, trong đó nghề dệt đã có cách đây gần 500 năm. Đây là quê hương của nghề dệt vải mộc sử dụng chất liệu sợi bông chủ yếu làm vải lót phục vụ cho ngành công nghiệp đóng dày, các loại vải lót được sử dụng phổ biến làm túi xách xuất khẩu, hay đủ các loại vải phục vụ cho đời sống của đồng bào các dân tộc vùng cao…

Điểm dừng chân cuối của chúng tôi là làng dệt Đại Hoàng thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân. Nét cảm nhận đầu tiên mà bất cứ du khách nào có dịp đến đây là những con đường làng gạch đỏ với những khúc uốn cong mềm mại cùng những dòng người tấp nập vận chuyển vải, manh đay…. Hiện nay các sản phẩn của dệt Đại Hoàng rất đa dạng và phong phú, nhiều kiểu loại, mẫu mã như khổ 40 cm là vải kẻ dân tộc, khổ 80 cm là vải thường, khổ 1,4 m là vải dệt chéo… , ngoài ra Đại Hoàng còn nổi tiếng về dệt bao tải và manh đay phục vụ xuất khẩu.

Nghề dệt vải Đại Hoàng phát triển rất mạnh trong những năm gần đây do nhu cầu của thị trường xuất khẩu, không những thu hút đông đảo người dân tham gia, mà còn lôi cuốn nhiều cơ sở kinh doanh làm dịch vụ bao tiêu sản phẩm, dịch vụ nhuộm vải, cung cấp nguyên liệu sợi dịch vụ vận chuyển, dịch vụ gỡ sợi tơ bị rối… Đại Hoàng cũng đã năng động đổi mới, mua sắm thiết bị để nâng cao năng suất. Đến nay, cả làng đã có tới trên 2.500 khung dệt chạy bằng điện, có 800 khung dệt được khổ rộng đem lại năng suất sản phẩm đạt 23 triệu mét vải, 5 triệu chiếc khăn mặt, 1.200 bao tải đay và 500 tấn manh đay trong năm 2005.

Phát triển nghề dệt vải truyền thống ở Nha Xá, Nhật Tân, Đại Hoàng … chỉ là những điểm sáng trong vô số các điểm sáng tại Hà Nam. Mô hình làm giàu bằng nghề dệt truyền thống ở đất đa nghề dệt Hà Nam đáng được biểu dương và học tập./.

Làng Đô Hai (xã An Lão, huyện Bình Lục, Tỉnh Hà Nam) có tới 90% dân số theo đạo Thiên chúa và 100% theo nghề làm sừng lúc nông nhàn.


Tìm lại trong trí nhớ khá lâu, ông Lê Ngọc Nuôi- Bí thư chi bộ làng mới giới thiệu được cho chúng tôi cụ Nguyễn Văn Ba - một người tỉ mẩn với nghề, kèm theo lời phân trần: "Bây giờ, các cụ khéo nổi tiếng già hết cả rồi, đến nỗi tay run, mắt mờ trí nhớ kém không thể trò chuyện nổi. Chỉ có cụ Nguyễn Văn Ba là hơn hẳn thôi". Giữa những tiếng cưa, đục, mài... chúng tôi được tiếp chuyện với một cụ già 78 tuổi nước da hồng hào, dáng vẻ nhanh nhẹn và khoẻ mạnh. Đã 65 năm làm sừng mỹ nghệ cụ Nguyễn Văn Ba được tiếng là tinh tế, như vậy đủ thấy sự quý giá của mỗi sản phẩm cụ làm ra. Thuở hàn vi cha của cụ dạy cụ từ cách tiếp cận mẫu mã đến những thao tác dù nhỏ nhất. Cụ tâm sự "Ngày ấy con cái không cãi cha mẹ. Chúng tôi đã quen với việc xếp đặt nên học nghề một cách tự nhiên".

Buổi sơ khai của sừng mỹ nghệ chỉ là lược chải tóc, bàn chải đánh răng, tóm lại là những vật dụng rất nhỏ. Cũng vì nhu cầu ngày ấy không thể cao hơn. Rồi hợp tác xã sừng ra đời là nơi gửi thân những người theo nghề. Trước năm 1974, mỗi khi đạn bom giội xuống thì hợp tác xã sơ tán, yên ổn lại tụ về sản xuất. Những năm tháng đó, ai làm sừng thì yên tâm hoàn toàn vì số tiền mỗi người có được hàng tháng thừa sức gõ được thịt, cá! Nhà nước "bao tiêu", làng nghề được lợi như thế. Đang hàn huyên, cụ Ba như bị thực tế đánh thức, nhìn sang ông Bí thư chi bộ, chau mày nói: "Con trai nó đang giục tôi lên Hà Nội ở cùng cho vui. Nhưng vui gì, chật chội tôi không quen, với lại tôi còn lao động được".

Một tháng cụ Ba cũng chỉ làm một vài sản phẩm cho khách quen. Đấy là những bộ tam đa, những con giống có kích thước lớn, đôi khi cụ làm theo mẫu khách đưa. Sản phẩm cụ làm là những "sản phẩm tinh" nên người làng rất nể và khách hàng rất nhớ. Mặc dù ngày nay đã được sự trợ giúp của máy móc, nhưng có những sản phẩm cụ vẫn mất đến hàng tuần, chẳng thế cả làng gọi cụ là Nghệ nhân. Chỉ nói riêng công đoạn đánh bóng, dẫu không còn dùng đến lá chịu, lá ngái như ngày xưa nhưng sau 2-4 công (1-2 ngày) mới xong. Vậy là "người làm hàng loại một" chỉ còn lại một.

Xã An Đổ (Bình Lục) có hơn 8000 nhân khẩu, 2700 hộ. Nơi đây có nghề làm dũa - một nghề độc nhất vô nhị mà chưa làng nghề nào có được ở Việt Nam.


Hiện nay ở An Đổ có hơn 200 hộ sản xuất dũa, tập trung chủ yếu ở thôn Đại Phu. Những năm 1960 - 1964 rồi 1976 - 1982, nghề dũa ở Đại Phu đã tạo ra niềm tin đối với khách hàng xa và gần. HTX tiểu thủ công nghiệp Đại Phu được trang bị máy dập răng, xưởng cơ khí với hơn 200 công nhân, mỗi năm làm ra hơn 400.000 sản phẩm. Dũa của An Đổ đã xuất sang các nước Đông Âu, Lào, Campuchia… thu được nguồn ngoại tệ đáng kể và làm rạng danh cho An Đổ. Ngày ấy, dũa An Đổ đã đăng kí chất lượng 17493 và 3 lần đạt huy chương vàng hội chợ hàng tiểu thủ công nghiệp vào các năm 1980 - 1981 và 1982.

Nguyên liệu làm dũa có 2 nguồn: một là thép cây đặc chủng Y12A của Liên Xô (cũ), hai là các loại vòng bi đã hết hạn sử dụng. Dụng cụ để làm dũa khá đơn giản, gồm đe, búa, khuôn, dao băm, lò luyện, bễ rèn, đôi càng nạo (nay được thay bằng máy mài chạy điện), axít và xút để tẩy rửa. Nghề làm rũa ở đây đã đi vào chuyên môn hoá, theo 6 khâu cơ bản: tạo phôi, tạo mặt phẳng, tạo răng, tôi luyện, kiểm hoá và đóng gói.

Đầu tiên là dùng lò rèn để xẻ nguyên liệu, tạo phôi bằng khuôn, tạo phôi xong phải mài mặt phẳng (trước đây phải dùng nạo để tạo mặt phẳng vừa lâu vừa tiêu tốn sức lao động, nay đã sử dụng máy mài tạo mặt phẳng), mài xong đến công đoạn băm răng dũa. Công đoạn này cũng làm thủ công. Bởi lẽ băm dũa bằng tay thì gai sắc và gợn hơn băm bằng máy. Khâu cuối cùng trong sản xuất dũa là tôi luyện tạo độ cứng của dũa. Đây thực sưj là bí quyết nghề nghiệp. Những người thợ lành nghề hoàn toàn tôi luyện dũa bằng kinh nghiệm của mắt - nhìn dũa chuyển màu để biết tôi luyện thế nào cho dũa cứng đủ độ, không non quá mà cũng không già  quá. Bởi nếu non quá thì dũa kém chất lượng, mà già quá thì hay gãy. Mỗi gia đình làm dũa ở đây đều tự chuyên sâu vào một công đoạn sản xuất, nhờ vậy sản phẩm làm ra chất lượng tốt hơn.

Các loại dũa: dũa tam giác, dũa bán nguyệt, dũa vuông, dũa tròn, dũa chữ nhật, dũa dẹt… với hàng trăm chủng loại từ cỡ 1mm đến 350mm. Những hộ làm dũa ở đây còn nhận làm dũa mỹ nghệ cho các công ty chuyên trạm khắc gỗ, kỹ nghệ vàng bạc. Làm các loại dũa theo đơn đặt hàng đòi hỏi phải có tay nghề cao và việc tôi luyện cũng khó hơn, bù lại thu nhập lại cao khoảng gần 1 triệu đồng/tháng.

Gần 50 năm qua, nghề dũa An Đổ đã từng bước tự khẳng định mình, tạo uy tín trên thị trường, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong sự nghiệp công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.

Những năm gần đây, mỗi tháng ở An Đổ xuất 500.000 sản phẩm và chủ yếu được tiêu thụ ở Hà Nội, các tỉnh phía nam. Hiện nay dũa An Đổ có mặt trên thị trường của các nước ASEAN.

Những người thợ làm dũa An Đổ vẫn muốn tự mình kí được hợp đồng xuất khẩu chứ không phải qua con đường tiểu ngạch. Họ còn lo nguồn nguyên liệu đầu vào bấp bênh và hy vọng tìm được nguồn nguyên liệu ổn định để sản xuất.

(Nguồn: hanam.gov.vn

Xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân là một nơi đất chật, người đông. Xã có 548 ha đất canh tác, 2865 hộ và 11.858 nhân khẩu. Nói đến Nguyên Lý người ta nghĩ ngay đến nơi làm bánh đa nem nổi tiếng. Đây không những là một nghề truyền thống mà còn là một bí quyết gia truyền để phát triển kinh tế.


 Nguyên Lý hiện có hơn 400 hộ làm bánh đa với đủ loại: bánh đa thái, bánh đa quạt, bánh đa nem. Song đáng kể là có khoảng 100 hộ làm bánh đa nem đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Số sản phẩm do các hộ khác làm được tiêu thụ trong nước.

Trước tiên nói đến dụng cụ để sản xuất bánh đa gồm xoong, nồi, khuôn tráng bánh, giàn phơi bánh, một vài ống nứa để lấy bánh đa ra khi chín, một số vật đựng bằng nhôm hoặc bằng nhựa để ngâm gạo, đựng bột nước… Vốn đầu tư để sản xuất bánh đa nem không lớn lắm, chỉ khoảng trên dưới 3 triệu đồng là có thể sản xuất được với quy mô hộ gia đình. Vì là nghề truyền thống nên những người biết làm bánh đa đều có bí quyết riêng. Đó được xem như bí quyết gia truyền trong công thức pha chế bột sao cho bảo đảm một tỷ lệ thích hợp với từng mùa trong năm. Có lẽ vì thế mà bánh đa nem của Nguyên Lý luôn giữ được chất lượng tốt: bánh có độ dẻo cao, trắng mềm mà không dính… Đây là yếu tố quyết định đến việc chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm.

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm hiện nay vẫn là khâu tiêu thụ sản phẩm. Cũng như bao làng nghề truyền thống khác trong cơ chế mở cửa, sản phẩm bánh đa nem của Nguyên Lý gặp không ít khó khăn trong khâu tiêu thụ bởi vì nó bị phụ thuộc vào các cai thầu. Những người sản xuất ở đây cho biết: nếu mỗi hộ một ngày sản xuất, chế biến 10kg gạo, thành phẩm đạt 6,4kg bánh đa nem, giá bán 8000đ/kg thì trừ mọi chi phí cũng chỉ còn lãi 10.000đ. Đấy là chưa kể những lúc sản phẩm bán chậm, bị tồn đọng, phải bán với giá thấp hơn.

Nguyên Lý hiện có 5 cơ sở chính thu mua sản phẩm để xuất khẩu bằng phương thức ứng vốn trước nhưng số lượng cũng chưa lớn, trong khi đó sản phẩm làm ra ngày một nhiều nên giá cả chưa ổn định. Xã cũng có một cơ sở làm trung gian chuyển hàng thông qua con đường tiểu ngạch để xuất khẩu sang Hàn Quốc, mỗi năm khoảng 10 chuyến, mỗi chuyến được 10 tấn. Số còn lại được thu mua để cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh. Bánh đa nem Nguyên Lý cũng giống như bao sản phẩm làng nghề truyền thống khác: bị ép giá thường xuyên và đầu ra cho sản phẩm vẫn là bài toán nan giải với người sản xuất và cơ quan hữu trách.

Hiện nay, các lò sản xuất bánh đa nem ở Nguyên Lý hoạt động liên tục sẽ tiêu thụ khoảng 4000kg/gạo/ngày, làm ra 3.200kg sản phẩm, doanh thu khoảng hơn 25 triệu đồng, giải quyết việc làm cho hơn 1.500 lao động. Cùng với việc làm bánh đa nem, các nghề: xay xát, buôn bán thóc gạo, các dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu, dụng cụ sản xuất cũng theo đó mà phát triển, nhất là chăn nuôi, các hộ làm bánh đã tận dụng phế liệu trong quá trình sản xuất để phát triển chăn nuôi lợn. Mỗi hộ tối thiểu cũng phải có 2 con lợn.

Tuy nhiên không thể không nói đến hiện trạng môi trường hiện nay ở Nguyên Lý. Trung bình mỗi ngày các lò tiêu thụ khoảng 10 tấn than. Ở một diện tích hẹp như Nguyên Lý thì lượng khí thải CO2 làm ô nhiễm nguồn không khí là không thể tránh khỏi. Rồi lượng nước thải trong quá trình vo gạo, chế biến bột… cũng ảnh hưởng đến nguồn nước ở đây.

Để tiếp tục phát triển làng nghề truyền thống, đồng thời để hạn chế đến mức thấp nhất việc sản xuất gây ô nhiễm môi trường các hộ, các cấp chính quyền huyện, xã cần tìm một giải pháp thích hợp cho làng nghề như có thể xây dựng khu tráng bánh tập trung, hoặc liên doanh vài hộ với nhau, các lò tráng bánh cần phải có hệ thống ống khói đủ tiêu chuẩn…
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử bánh đa nem Nguyên Lý vẫn tồn tại và phát triển, đây cũng là nét đẹp văn hoá của một làng nghề truyền thống.

(Nguồn: hanam.gov.vn)

Giữa vùng đồng bằng sông Hồng, núi Đọi thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tuy không cao nhưng từ xưa đã nhiều người biết đến. Trước khi Thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông về đây xây dựng chùa Long Đọi Sơn (1118), làng trống Đọi Tam dưới chân núi đã có trên hai trăm năm.


Giữa vùng đồng bằng sông Hồng, núi Đọi thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tuy không cao nhưng từ xưa đã nhiều người biết đến. Trước khi Thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông về đây xây dựng chùa Long Đọi Sơn (1118), làng trống Đọi Tam dưới chân núi đã có trên hai trăm năm.

Gõ trống mừng vua

Không hiểu sao lại có sự ăn khớp giữa thiên nhiên và cuộc sống con người đến thế giữa dãy núi Đọi ba ngọn. Dù có ba làng Đọi trong xã Đọi Sơn nhưng Đọi Nhất, Đọi Nhị không có nghề làm trống mà duy chỉ có làng Đọi Tam. Làng Đọi Tam nằm ở phía Tây Bắc chân núi Đọi. Giữa làng nay vẫn còn ngôi đình cổ. Đình thờ thành hoàng làng là hai ông tổ nghề. Ông Đinh Văn Bục - thủ nhang đình cho hay: “Một ngày nọ, cách nay hơn 1.000 năm, có hai anh em húy là Nguyễn Đức Năng và Nguyễn Đức Bản (có người cho là Đạt) khi đi qua làng Đọi Tam thấy vùng này có nhiều cây mít gỗ đẹp, quả mít chín thơm lừng, gỗ mít vàng ươm lại không bị mọt, hai anh em liền quyết định chọn nơi này làm chốn định cư để hành nghề".

Ông Bục cũng kể rằng: Khi vua Lê Đại Hành sửa soạn về làng cày ruộng tịch điền khuyến nông (năm 986), cụ Năng và cụ Bản đã tự tay làm một cái trống to để đón vua. Tương truyền vì tiếng trống vang như sấm rền nên về sau hai ông được dân làng tôn là Trạng Sấm. Ông Bục cũng kể rằng: Trong buổi tịch điền, vua có cày thi với Trạng Sấm (cụ Năng được phong là Trạng Sấm nhưng cả hai anh em đều được thờ làm thành hoàng làng). Kết quả là vua thua. Vì thế nên vua đã tác thành cho Trạng Sấm lấy người con gái đẹp làng Tiên Phong gần đó.

Các cụ trong làng trống Đọi Tam còn truyền tụng nhau một câu chuyện gõ trống mừng vua nữa. Đó là lần vua Lý Thái Tổ dời đô từ từ Hoa Lư về Đại La. Tương truyền khi đoàn thuyền rồng rẽ từ sông Đáy vào sông Châu để thông ra sông Cái (Sông Hồng) đến đoạn uốn lượn ở dưới chân núi Đọi thì dân làng Đọi Tam mang trống ra gõ mừng. Vua lấy làm hài lòng bèn cho một số thợ làng Đọi Tam đi theo về lập kinh đô mới. Có thể phố Hàng Trống ở kinh thành Thăng long, nay là thủ đô Hà Nội được lập từ thời đó chăng?

Đến nay, trải qua hàng ngàn năm, người dân Đọi Tam vẫn lưu giữ và làm giàu thêm vốn nghề truyền thống của tổ tiên. Tháng 10 năm 2004, tỉnh Hà Nam cấp bằng công nhận làng nghề truyền thống tiểu thủ công cho làng trống Đọi Tam. Tháng 11 năm 2007, làng trống Đọi Tam được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam trao Bằng khen “Làng nghề tiêu biểu Việt Nam”.

Tiếp nối các nghệ nhân Đọi Tam khi xưa, dù ở làng hay đi lập nghiệp phương xa đều giữ lấy nghề tổ nên nhiều người dân Thủ đô có thể đều biết tiếng cơ sở làm trống của nghệ nhân Phạm Chí Tịnh tại phố Hàng Nón - một người con của làng trống Đọi Tam.

Tinh xảo nghề trống Đọi Tam

Đến Đọi Tam vào một ngày đầu hè, thi thoảng ta lại nghe thấy tiếng xẻ gỗ ở một xưởng chuyên làm trống. Ghé thăm xưởng của nghệ nhân Thanh Hùng ở xóm 4, làng Đọi Tam, ngay sát chân núi Đọi, chúng tôi thấy cả nhà anh đang xoay trần ra kẻ xẻ, người chuốt những thanh gỗ mít vàng ươm. Vợ anh một mình đang "pha" những những súc gỗ mít đã cắt đoạn thành những mảnh dăm. Còn anh Hùng thì làm công đoạn chuốt dăm. Anh Hùng cho biết: "Tùy theo kích cỡ trống mà định ra bao nhiêu dăm. Độ cong và độ dẻo của dăm cũng được tính toán kỹ để khi ghép thành tang trống thì vừa khít". Ngoài ra, để cho tang trống thật kín, những người thợ Đọi Tam còn dùng sơn ta miết vào các khe. Cứ một lớp sơn lại có một lớp vải màn. Anh Hùng cho biết: "Hiện cả làng có 14 cơ sở sản xuất khung trống, 13 cơ sở sản xuất da trâu, trên 10 cơ sở làm hoàn chỉnh trống".

Ông Bục nói: "Trẻ con ở làng Đọi Tam, lên 10 tuổi đã có thể biết sơ lược về cách làm trống. Nhiều em học sinh cấp 2, cấp 3 ngoài giờ đến lớp còn ở nhà giúp gia đình làm rất nhiều loại trống: Trống đế chèo, trống đình, trống trường học… với đường kính từ 20cm cho tới 2m. Thu nhập từ làm trống của các em và một số thợ trung bình ở các xưởng sản xuất đạt từ 1.000.000 đến 1.500.000 đ/tháng”.

(Nguồn: hanam.gov.vn)

Xã Hoàng Đông (Duy Tiên) có diện tích tự nhiên gần 7km2, dân số 6.894 người. Xã có 6 thôn, nơi đây có nghề mây tre đan truyền thống. Trong khi nhiều làng nghề truyền thống gặp không ít khó khăn thì nghề mây tre đan ở đây lại đang trên đà phát triển.

Ngày mới ra đời, ở đây chủ yếu sản xuất ghế mây. Sản phẩm này ngay lập tức được nhiều người chấp nhận bởi mẫu mã đẹp lại phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Càng ngày tiếng tăm của làng nghề càng vang xa, người về đặt mua sản phẩm, người bán nguyên liệu ngày một tấp nập.


Lúc Bác Hồ còn sống, dân làng Ngọc Động đã biếu người một bộ phô tơi (gồm 6 chiếc ghế salon và 1 chiếc ghế chao). Bộ salon này được Bác kê ở nhà sàn để tiếp khách. Đại sứ quán nước cộng hoà DCND Triều Tiên cũng đã về Ngọc Động đặt mua 1 bộ salon cho chủ tịch Kim Nhật Thành.

Cũng như nhiều làng nghề khác, nghề mây tre đan ở Ngọc Động đã gặp không ít khó khăn khi chuyển đổi cơ chế. Song lớp thợ Ngọc Động đã trăn trở tìm cách nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã tìm kiếm thị trường ở Tây Âu và các nước Đông Nam Á. Nhờ vậy làng nghề đã trụ vững và đi lên.

Nguyên liệu cung cấp cho làng nghề là 2 thứ cây có nhiều ở nước ta: cây giang và cây mây. Các sản phẩm như bát, đĩa, khay, lọ hoa, lọ độc bình, lãng hoa hiện nay rất đa dạng về chủng loại và mẫu mã. Có những lọ độc bình cao đến 1,8m, giá xuất xưởng xấp xỉ 500.000đ.

Hiện nay ở Ngọc Động, mô hình sản xuất theo hộ gia đình là chính, tuy nhiên việc tiêu thụ sản phẩm lại phải thông qua một số người. Điều này thường gặp nhiều ở làng nghề. Những người này có vốn, nắm bắt được thông tin nên họ đứng ra đặt hàng rồi thu gom hàng để bán.

Nghề mây tre đan ở đây có ưu điểm là: vốn ít (chỉ cần từ 300.000 - 500.000đ là tạm đủ cho một hộ 4 người sản xuất), tận dụng được lao động phụ đặc biệt là trẻ em và người già, thu nhập cao (thợ kỹ thuật bậc cao khoảng 25.000 - 30.000đ/ngày, lao động phổ thông cũng đạt 10.000 - 15.000đ/ngày).

Nghề truyền thống đã mang lại cho Ngọc Động những lợi ích kinh tế rõ rệt không thể phủ nhận được. Ngoài ra, những lợi ích khác về xã hội mà làng nghề đem lại cũng không thể tính đếm hết, như đẩy lùi các tệ nạn xã hội, trẻ em ngoài việc học hành còn tham gia giúp gia đình làm thêm việc đan lát. Những nghệ nhân cao tuổi thì sáng tạo mẫu mã, kiểu dáng; người già, trẻ em thì làm nan; những ông chủ thì mua gom sản phẩm, tìm kiếm những hợp đồng có giá trị kinh tế; những người trực tiếp làm ra sản phẩm thì phơi, sấy; những người thợ khai thác lại chuẩn bị cho những chuyến đi…

Làng nghề ở Ngọc Động đã tồn tại qua bao thăng trầm. Lớp thợ hôm nay dám nghĩ dám làm để những sản phẩm của mình tiếp tục nối tiếp truyền thống của những người đi trước. Sản phẩm mây tre đan Ngọc Động được khẳng định chẳng những trên thị trường trong nước mà còn cả ở nước ngoài. Đó là một niềm vui không những của riêng người dân Ngọc Động mà còn là niềm tự hào của ngành TTCN tỉnh Hà Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh đó còn những nỗi lo về ô nhiễm môi trường, về hoả hoạn. Ngọc Động mong muốn các cấp các ngành có biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hạn chế thấp nhất hoả hoạn có thể xảy ra. Được như vậy, những người dân của Ngọc Động sẽ có điều kiện đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.