vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:

Từ thị xã Phủ Lý theo quốc lộ 1A đi về phía Ninh Bình 2km, rẽ phải theo đường qua cầu Đọ về Châu Sơn 4km sẽ đến động.


Động Phúc Long nằm trong khu vực núi Chùa thôn Châu, thuộc núi Kiện Khê (còn gọi là núi Thiên Kiện). Núi Chùa là một trong số những ngọn núi nối đuôi nhau ở địa phận thôn Châu Sơn và thôn La Mát thuộc Kiện Khê. Núi Chùa là ngọn trung tâm, trên đó có chùa Hang, có khu miếu ở phía bắc chùa. Vua Trần Duệ Tông (1373-1377) đã cho lập đền thờ trên núi, đền thờ này bị nhà Nguyễn phá vào năm Tân Dậu (1801) và cho xây lại ở thôn Châu như vị trí hiện nay. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, tục truyền trên núi Thiên Kiện có cây tùng cổ có rồng quần ở trên, vua Trần Thái Tông đã lập hành cung và Trần Đế Nghiễn cho quân vận chuyển tiền đồng về cất giấu năm 1379 ở nơi đây. Thời Pháp thuộc, Viễn Đông bác cổ đã liệt hạng núi Chùa là cổ tích danh thắng (ngày 01 tháng 6 năm 1925).

Núi Chùa do các khối đá vỉa xếp chồng chất, lởm chởm như đầu con rồng. Có mỏm đứng chơ vơ trên đỉnh như sừng rồng, nhiều mỏm đá dựng ngược như tóc rồng, phía nam núi có một mái đá nhô ra, dưới mái đá có những vỉa bò lan, nổi cộm lại thành miệng con rồng mà ngôi chùa như hạt ngọc nằm gọn trong miệng con rồng, nhiều vỉa đá xếp thành các bậc thang rất thuận tiện cho việc lên núi ngắm cảnh. Trên đỉnh núi có nhiều cây cổ thụ kiểu dáng khác nhau, từ đây có thể bao quát cảnh sơn thủy hữu tình của sông Đáy, núi Bút Sơn, thành nhà Hồ, núi rừng Thanh Thủy và dòng sông Đáy.

Từ đất bằng leo lên chừng 2m tới cửa động, từ cửa động đi vào chừng 5m tới một ngã ba, rẽ bên phải đi xuống dần hàng chục mét là động có nhiều thạch nhũ đẹp, rẽ bên trái là đường lởm chởm nhũ đá nhô lên, rủ xuống tạo thành nhiều hình thù kỳ lạ. Động Phúc Long có dáng một con rồng thắt túi, có nhiều dơi bám trên vách nên nhân dân địa phương còn gọi đây là hang dơi. Động Phúc Long có sức chứa vài trăm người. Động hài hòa với cảnh quan núi Chùa, ngay bên cạnh là đình và chùa thôn Châu, tạo thành một di tích thắng cảnh hấp dẫn đối với du khách gần xa.

(Nguồn: hanam.gov.vn)

Từ thị xã Phủ Lý qua cầu Hồng Phú, theo quốc lộ 21, đến cây số 11, rẽ trái 500m là tới hang. Trước cửa hang, có hai quả núi thấp đứng đối nhau tạo nên một cửa đá đồ sộ chắn ngang trước cửa hang.


Đây là một điểm dừng chân lý tưởng để ngắm toàn cảnh khu vực núi non và hang Luồn

Đây là khu vực được bao bọc xung quanh bởi các dãy núi cao, ở giữa thung lũng này nổi lên một dãy núi thấp, dãy núi này có hang Luồn. Miệng hang Luồn chính là mặt trước của dãy núi nhìn ra cửa đá. Trước mặt hang là một bãi đất rộng có một con kênh lớn chứa nhiều nước. Về mùa mưa, đây là một bến thuyền.

Mùa cạn có thể vừa đi thuyền, vừa đi bộ xuống cửa hang. Nguồn nước ở đây từ các khe núi cao đổ xuống, tỏa vào các kênh, các mạch ngầm rồi dẫn ra sông Đáy. Chính vì vậy, nước rất trong và sạch, có thể nhìn thấu đáy. Về mùa mưa, nước dâng lên sát trần hang nhưng cũng chỉ chốc lát là rút hết, chỉ giữ lại một lượng nước vừa đủ để vào hang.

Toàn cảnh khu Hang Luồn.

Miệng hang Luồn có hình vòm vách núi, chỗ nhô ra, chỗ lõm vào, chỗ thì chạy thẳng xuống lòng hang, vách thì uốn cong. Đặc biệt có vô số các nhũ đá hình thù muôn vẻ, cái từ trần hang rủ xuống, cái từ vách đá chồi ra kéo dài suốt chiều dài cửa hang.

Chiều dài hang Luồn khoảng 400m, chiều rộng của hang vừa đủ cho một đoàn khách đi thuyền ngắm các vách núi với các nhũ đá kỳ lạ và nghe tiếng nước rỏ tí tách. Trong ánh sáng mờ ảo du khách sẽ cảm thấy bập bềnh, rồi du thuyền sẽ đưa du khách tới một không gian mở ra choáng ngợp khi gặp ao Dong.

Ao Dong rộng khoảng 300 mẫu, nước trong vắt có thể nhìn thấy từng con cá bơi, thấy cả thảm thực vật, đặc biệt là các loài rong núi, ngay cả ở mực nước sâu tới 3m. Ao Dong được tạo nên bởi các dãy núi cao, với rừng cây bên sườn núi. Động vật ở đây khá đa dạng, cỏ trắng, sơn dương rất nhiều tạo thêm sự sinh động hấp dẫn cho cảnh quan. Các ngọn núi in bóng xuống làn nước trong vắt của ao Dong tạo nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình.



Hang Luồn, ao Dong với sự kết hợp hài hòa của núi non cây cỏ, trời xanh, nước biếc, quần thể động thực vật hoang dã phong phú là điểm du lịch sinh thái có giá trị của tỉnh Hà Nam.

 Chùa Tiên tọa lạc trên núi Đụn, thôn Đồi Ngang, xã Thanh Lưu huyện Thanh Liêm. Lễ hội chùa Tiên được phục dựng từ năm 1992, lễ hội diễn ra từ ngày mùng 1 đến ngày 3 tháng 3 âm lịch.


Tương truyền đây là vùng núi địa linh – nơi có 99 con phượng hoàng bay về cư ngụ trên đồi thông 99 ngọn và bàn cờ tiên – đêm đêm trăng thanh gió mát, tiên thường hạ giới đánh cờ và thưởng ngoạn núi non. Tưởng nhớ các bậc tiên thánh, nhân dân trong vùng đã lập chùa thờ tự. Hiện nay xung quanh khu vực chùa Tiên còn lưu giữ nhiều ngọc phả, sắc phong quý và có ý nghĩa lịch sử lớn của vùng đất Thanh Liêm. Trải qua hàng trăm năm, chùa đã được tu sửa nhiều lần.

Lễ hội chùa Tiên được phục dựng từ năm 1992, lễ hội diễn ra từ ngày mùng 1 đến ngày 3 tháng 3 âm lịch. Cùng với nghi thức rước mẫu lên chùa, nghi thức tế lễ cầu quốc thái dân an, lễ hội còn diễn ra nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ thu hút đông đảo tín đồ phật tử và khách thập phương tham gia.

theo  HaNam24h.vn

Ngôi nhà ở làng ‘Vũ Đại’ đã trải qua hơn một thế kỷ với nhiều đời chủ và nhiều lần “chết hụt”, nhưng vẫn hiên ngang.
Ở xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đang tồn tại một ngôi nhà gỗ 16 cây cột lim mái ngói, với nhiều hoa văn họa tiết tinh xảo. Kỳ lạ hơn khi ngôi nhà này đã trải qua hơn 100 năm với nhiều đời chủ… và nhiều lần “chết hụt” nhưng vẫn hiên ngang. Đó chính là ngôi nhà “Bá Kiến”, nguyên mẫu trong tác phẩm Chí Phèo của cố nhà văn Nam Cao.

Ngôi nhà có một kiến trúc độc đáo ít người biết đến

Cách trung tâm thành phố Phủ Lý (Hà Nam) chừng 40 km theo đường tỉnh lộ là xóm 11, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam (xưa kia gọi làng Đại Hoàng, xã Nhân Hậu, phủ Lý Nhân – Hà Nam), quê hương của cố nhà văn Nam Cao. Và cũng chính cố nhà văn Nam Cao là người đã viết nên tác phẩm để đời Chí Phèo với những nhân vật nổi tiếng như Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến… cho đến địa danh “làng Vũ Đại” đã đi vào lòng người từ bao thế hệ như một niềm tự hào dân tộc. Nhưng ít ai biết đến những câu chuyện thăng trầm xung quanh ngôi nhà Bá Kiến thực, vốn là nguyên mẫu trong tác phẩm Chí Phèo của cố nhà văn này.

Ngôi nhà này vốn từng thuộc sở hữu của ngụy viên Bắc kỳ Bá Bính. Bá Bính, tên thật là Trần Duy Bính (mất năm 1946) được cố nhà văn Nam Cao tiết lộ chính là nguyên mẫu nhân vật Bá Kiến. Đây có lẽ là lý do để cuộc đời nguyên mẫu cũng như ngôi nhà của ông này có nhiều kỳ lạ.

Nằm ngay sát bên con đường đất liên thôn ở xóm 11 xã Hòa Hậu là ngôi nhà Bá Kiến tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 900 m2, cửa ngoảnh theo hướng Tây -Nam. Hiện nay nếu nói người hiểu biết rõ nhất về ngôi nhà Bá Kiến này không ai khác chính là cụ Trần Bá Huấn (82 tuổi, xóm 11, xã Hòa Hậu), một cao niên trong làng. Vốn là một giáo viên về hưu đã hàng chục năm nay cụ Huấn tẩn mẩn tỉ mỉ cất công tìm hiểu nghiên cứu và ghi chép lại hồ sơ chi tiết về ngôi nhà này.

Ngôi nhà được lấy nguyên mẫu cho câu chuyện của nhà văn Nam Cao.

Cụ Huấn giới thiệu tỉ mỉ về kiến trúc đặc biệt của ngôi nhà: “Ngôi nhà này được kết cấu theo kiểu “lộn thềm ngưỡng chồng, tàu bảy then trâu chồng chóp”. Nhà có 3 gian theo truyền thống người Việt Nam, 4 hàng cột với tổng cộng 16 cây cột lim, chân cột được kê đá tảng là một loại đá xanh được đẽo gọt công phu giống nhau gần như 100%. Cửa ghép bức bàn, ngoài hiên có một hàng dãi dùng (hay còn gọi là tấm liếp) chống nắng và mưa được làm bằng gỗ. Tất cả gỗ của ngôi nhà này đều bằng lim. Trên các văng, kèo, li tô được chạm khắc nhiều chữ Nho, hình rồng. Đặc biệt trên nóc nhà (thượng ốc) có khắc dòng chữ Nho nói về thời gian chính xác năm làm ngôi nhà”.

“Khi đó, vôi cũng đang ít chứ chưa nói đến xi măng, người ta trộn mật mía, mù hóng vào vôi và thêm một số phụ gia khác như vỏ cây Bời lời để làm thành hồ xây nhà. Còn gạch dùng xây tường và lát nền nhà thì được nung bằng rơm nên dù qua thời gian nhưng bức tường vẫn không hề bong tróc. Mái nhà lợp duy nhất một loại ngói ta theo kiểu bít đốc, hai đầu bờ nóc có đấu vuông giật cấp”, cụ Huấn nói.

Lạ hơn khi được biết dù đã hơn 100 năm nhưng mái ngói của ngôi nhà này vẫn chưa một lần tu sửa nhưng vẫn phẳng lỳ một cách tuyệt đối và không bị dột nát. Tìm hiểu về sự lạ kỳ của mái ngói ngôi nhà này, các cụ cao niên trong làng “Vũ Đại” hiện nay đều kể rằng, trước khi đem ngói lợp lên ngôi nhà thì các tay thợ thi công ngôi nhà này dùng nước mù hóng đặc ngâm những viên ngói này vào nhiều giờ đồng hồ rồi sau đó đem ra phơi khô. Tiếp theo các viên ngói được chọn lọc về độ bền một cách rất cẩn thận với phương pháp được coi là rất đơn giản nhưng lại hiệu quả và tốn không ít thời gian đó là người ta lấy lần lượt 2 viên ngói “chọi vào nhau” (gõ nhẹ vào nhau), nếu viên nào rạn nứt hoặc vỡ bể thì viên đó bị loại bỏ và chỉ chọn lấy một viên còn lại. Cứ như thế phải hàng chục nghìn viên ngói thì các thợ thi công ngôi nhà mới chọn ra được một số lượng nhỏ ngói để dùng lợp ngôi nhà.

Không chỉ riêng ngôi nhà mà ngay cả phần sân trước ngôi nhà Bá Kiến cũng có những nét riêng. Theo cụ Huấn, diện tích mặt sân trước ngôi nhà là khoảng 70 m2 được lát bằng thứ gạch được nung bằng rơm cùng với loại gạch lát trong nền nhà, cũng đã trải qua thăng trầm cùng ngôi nhà nhưng phần gạch ở sân này cũng chưa hề bị hư hỏng.

Ở mép ngoài bờ sân ngay chính diện cửa chính ngôi nhà còn có một cái bể nước nho nhỏ hình chữ nhật khoảng 2 mét vuông mà theo lý giải của nhiều người thì việc cái bể nước được xây dựng như vậy là để hợp với phong thủy của ngôi nhà.

Hơn trăm năm tuổi vượt phong ba

Đến nay nếu nói để có một tài liệu chính thống nào ghi chép chính xác về ngôi nhà “Bá Kiến” là rất khó mà chỉ qua lời truyền tụng của mọi người. Về làng “Vũ Đại” hôm nay nếu hỏi về tuổi tác của ngôi nhà “Bá Kiến” chắc chắn từ trẻ con mẫu giáo đến các cụ cao niên đều thuộc lòng các câu thơ:

“Đại Hoàng còn lại một ngôi nhà
Nếp cổ gỗ lim mái ngói ta
Bảy chủ thay nhau quyền sở hữu
Hơn trăm năm tuổi vượt phong ba…”

Cụ Lễ Trần Thế Lễ (92 tuổi), xóm 11, xã Hòa Hậu, là một trong những người cao tuổi nhất làng đã giải mã tuổi tác và thăng trầm của ngôi nhà thông qua những câu thơ được truyền tụng này. Chính cụ cũng từng là người thiếu chút nữa trở thành chủ nhân thứ 5 của ngôi nhà. Nói về ngôi nhà cổ này, cụ Lễ vẫn còn nhớ như in:

“ Nhà ‘Bá Kiến’ tính đến bây giờ đã qua 7 đời chủ. Chủ thứ nhất là cụ Cựu Hanh. Cụ Hanh là một lái buôn giàu có. Vào khoảng thập niên đầu tiên của thế kỷ XX (những năm 1910), cụ thuê hơn 20 thợ nổi tiếng làm nghề mộc ở Cao Đà, Phủ Lý Nhân về làm mấy tháng trời ròng rã mới xong. Đây cũng chính là ngôi nhà gỗ đặc biệt công phu mà khắp cả Phủ Lý Nhân và các tỉnh lân cận ở xứ Bắc Kỳ thời này đều chưa có. Khi Cụ Hanh mất đi để lại cho con là Trần Duy Xầm. Cụ Xầm mất đi để lại cho con cả là Cựu Cát. Cựu Cát là người chơi bời nghiện ngập rượu chè, thường hay vay nợ, sau đó Cựu Cát đã gạt nợ ngôi nhà về tay cụ Bá Bính (tên thật là Trần Bá Bính)”.

Cụ Bá Bính chính là nguyên mẫu của nhân vật Bá Kiến được nhà văn Nam Cao xây dựng trong tác phẩm “Chí Phèo”. Và cũng chính từ khi ngôi nhà vào tay cụ Bá Bính thì câu chuyện về ngôi nhà mới trở nên đặc biệt. Đây cũng là lý do giải thích tại sao ngôi nhà lại gắn liền với tên chủ nhân là nhà “Bá Kiến” được truyền tụng qua bao thế hệ nay.

Bá Bính mất đi để lại gia sản cho con là Trần Duy Tảo hay còn gọi là Binh Tảo kế thừa, vốn là con trai của bà cả. Sau khi bà cả chết, cụ Bá Bính đã lấy vợ hai. Binh Tảo nghiện rượu, những đồ đạc trong nhà ông đều mang đi cầm cố và bán sạch. Căn nhà là tài sản quý giá nhất cũng bị ông đem ra rao bán, và chính cụ Trần Thế Lễ bấy giờ đã có ý định mua ngôi nhà về xẻ làm gỗ, nhưng cụ Lễ chưa mua được thì ngôi nhà được cụ Cai Hậu, tên thật là Trần Hữu Hậu là một Việt kiều mua lại để định cư. Giá ngôi nhà lúc đó cụ Hậu mua là 4.500 đồng (tương đương với hàng chục cây vàng thời bấy giờ). Chủ nhân thứ 7 của ngôi nhà ông Trần Hữu Hòa, là cháu cụ Cai Hậu. Ông Hòa chính là chủ nhân cuối trước khi UBND tỉnh Hà Nam có quyết định lưu giữ ngôi nhà này vào năm 2007 sau khi đã thương thảo với bà Trần Thị Sâm (vợ ông Hòa) để mua lại ngôi nhà với giá 700 triệu đồng.

Ngôi nhà có ‘vía’ rất cao

Chính sự tồn tại hơn 100 năm với 7 đời chủ sở hữu mà mỗi khi nhắc đến ngôi nhà thì người dân làng “Vũ Đại” lại ví rằng căn nhà có một số phận như con người và nó có “vía” rất cao. “Vía” của ngôi nhà càng được kiểm định khi chính ngôi nhà đã vận cho mình sự may rủi nhất định đó là căn nhà đã hai lần phải “chết hụt” vì những tai nạn và những biến đổi của lịch sử.

Nói về chuyện ngôi nhà 2 lần “chết hụt” thì không ai hiểu rõ câu chuyện bằng cụ Trần Bá Huấn (81 tuổi), xóm 11, xã Hòa Hậu. Chính cụ Huấn là một trong 2 du kích địa phương trực tiếp dập lửa cứu ngôi nhà khi thực dân Pháp phóng hỏa đốt.

Cụ Huấn kể lại: “Năm 1953 khi thực dân Pháp mở trận càn lớn nhằm vào các làng xã nơi đây, trong đó có làng Đại Hoàng. Khi đó tôi 19 tuổi tham gia du kích địa phương làm nhiệm vụ cắm chông. Hôm đó lúc giặc đến thì tôi và Huỳnh trú ẩn tại một căn hầm bí mật gần ngôi nhà Bá Bính. Thực dân Pháp càn tới dùng chất hóa học bôi lên cột nhà sau đó phóng hỏa đốt. Nhưng lúc lửa bắt đầu bén cháy thì bọn thực dân Pháp lại có kèn báo hiệu rút quân. Chúng tôi lên khỏi hầm thì thấy cột nhà đã cháy, lửa bắt đầu lan lên mái. Hai anh em vội vã dùng xô, gàu múc nước dập lửa”.

Còn lần thứ 2 ngôi nhà này thiếu chút nữa bị người ta mua để xẻ ra lấy gỗ. Khi đã có người ngỏ ý mua về xẻ lấy gỗ nhưng chưa thực hiện được thì rất may có người đi nước ngoài về mua lại ngôi nhà với giá cao hơn để định cư.

Còn lần “chết hụt” nữa của ngôi nhà này xảy ra khi ngôi nhà đang thuộc quyền sở hữu của con trai cụ Bá Bính – tức Binh Tảo, Binh Tảo túng quẫn trong rượu chè đã rao bán ngôi nhà và chính người hỏi mua là ông Trần Thế Lễ, người vốn nổi tiếng là giàu có trong vùng thời bấy giờ. Ông Lễ gạ mua căn nhà với mục đích xẻ lấy 16 cột gỗ được làm bằng lim. Rất may, khi ý định ấy chưa được thực hiện thì một Việt kiều là cụ cai Hậu đã hỏi mua với mục đích định cư lâu dài. Cũng lần ấy, số phận căn nhà nhờ thuộc về cụ cai Hậu mà thoát khỏi “án tử”.

Lý giải về “vía” của ngôi nhà “Bá Kiến” cao để có thể tồn tại với thăng trầm lịch sử như vậy, các cao niên thạo Nho văn ở làng Đại Hoàng hiện nay cho hay: “Chính bởi xuất xứ của ngôi nhà gỗ đặc biệt này lại qua tay những người có máu mặt bậc nhất ở làng “Vũ Đại” lúc bấy giờ sở hữu nên việc ngôi nhà có cái “vía” cao như minh chứng lịch sử đã hiện hữu là có thể dễ hiểu. Đó bởi là trong mỗi con người đều có sẵn cái “vía”, có người “vía” cao, có người “vía” thấp, tương tự như vậy ngôi nhà “Bá Kiến” cũng có số phận như một con người, và có ‘vía’ rất cao”.

Từ thị xã Phủ Lý đi 3km tới dốc Đọ, rẽ tay trái 2km vào đường liên xã, đến thôn An Hòa rẽ phải 300m là đến di tích.

Cổng đình An Hòa
Đình An Hòa thờ hoàng tử Linh Lang và phò mã Kiều Đức Mậu thời Lý. Tương truyền trên đường đi đánh giặc phương nam, Linh Lang đã dừng lại vùng An Hòa để chiêu mộ binh sĩ. Trong số trai trái tình nguyện đi theo, Kiều Đức Mậu được phong làm tướng. Theo người dân địa phương, khu đất hình con rùa ở đây chính là nơi mà trước đây hoàng tử Linh Lang đã đóng quân, lập đồn và huấn luyện quân sĩ. Vì vậy, khi hoàng tử Linh Lang mất, dân đã chọn nơi đây để lập đền thờ. Vị thần được thờ cùng Linh Lang là Kiều Đức Mậu. Ông là người ở vùng núi phía tây huyện Thanh Liêm. Sau khi cùng Linh Lang đánh thắng giặc phương nam, ông được vua Lý Thái Tông chọn làm phò mã. Bởi mến cảnh vùng này nên ông cho lập cung ở đây, lại cung cấp tiền của để chiêu dân lập ấp tại vùng này. Do vậy, nhân dân ở đây vẫn thờ ông làm ông tổ có công lập nên làng xã. Tại đây còn có riêng một ban thờ các tổ lập làng xây dựng quê hương.
Đình An Hòa được xây dựng trên khu đất rộng, mặt trước đình có hồ rộng, hệ thống cột đồng trụ, tường bao. Tòa tiền đường là một công trình mái cong, 4 mái trải rộng nhưng do những trang trí ở hệ thống dao góc nên vẫn nhẹ nhàng, thanh thoát. Mái được lợp ngói mũi hài, nhà được làm theo lối chồng rường bẩy kẻ. Bộ khung công trình được làm theo lối tứ trụ, có 8 cột cái và cột quan. Các cột cái được làm theo lối búp đòng, chân cột được đặt trên tảng đá vuông xanh có chạm nổi gương tròn để đỡ chân cột. Hệ thống bẩy có bẩy tiền, bẩy hậu và 12 bẩy phụ. Hệ thống đòn bẩy hòa nhập với kẻ góc thành một tổng thể tự nhiên thể hiện kỹ thuật lành nghề của nghệ nhân dân gian.
Đình An Hòa được thiết kế theo kiểu mái cong, chỉ có 4 vì nên hệ thống cột là bộ đỡ quan trọng nhất của khung nhà. Ngoài 8 cột cái được làm theo kiểu phổ biến ở đình là kiểu cột búp đòng chân cột đặt trên đá tảng đế vuông, trên mặt đế chạm nổi gương tròn để đỡ chân cột có hệ thống cột quân có đường kính 0,3m, rất hài Hòa với cột cái cũng được chọn gỗ để làm. Vì vậy đã qua 400 năm mà vẫn bền vững, vẫn nổi vẻ đẹp kiểu dáng, đến các đường vân của gỗ. Hệ thống câu đầu của đình cũng rất lớn, dài tới 4,5m là kiểu má chai, giữa to hai đầu nhỏ dần. Dạ câu đầu tạo gờ chỉ, lá sồi trang trí đẹp mắt. Câu đầu còn được đặt trên hệ thống đầu dư rất cầu kỳ. Mẫu đầu dư là một đầu rồng được chạm kênh bong đã thể hiện đường nét nhấn tỉa khá phóng khoáng. Mỗi đầu dư một vẻ nhưng không hề dập khuôn. Điều đặc biệt là phía sau của đầu dư vừa lá phía sau của đầu cột cũng được đục chạm tạo thân hoặc đuôi rồng, chứng tỏ yêu cầu thẩm mỹ của công trình này được đặt ra rất cao.
Hệ thống bẩy ở đây gồm có bẩy tiền, bẩy hậu và 12 bẩy phụ ở góc dao và mái trái. Các bẩy nào cũng được tạo dáng có kích cỡ khác nhau, đặc điểm cao thấp khác nhau để đỡ cho mái cong dần về hai phía với độ uốn lượn đều đặn cả bốn mái. Cũng như các công trình kiến trúc cổ khác, phần chạm khắc được ưu tiên cho hàng bẩy tiền và quan trọng hơn là những bẩy ở gian chính giữa công trình. Những chiếc bẩy ở đây được chạm khắc trong nhiều đề tài như long chầu, long vân uốn lượn sinh động. Đan xen các đề tài còn có lá lật, lá hảo và các lớp chỉ lồng, chỉ kép dùng để trang trí dạ và thành bẩy, khiến những khúc gỗ to, cứng giữ chức năng đỡ bộ máy nặng nề lại trở thành mềm mại, hấp dẫn.

Đình An Hòa
Kẻ góc của đình An Hòa cũng Hòa nhập với tổng thể công trình, nhất là với hệ thống đòn bẩy. Nhưng việc thi công bốn kẻ góc mà dân gian thường gọi là xà cổ ngỗng, để vừa đảm bảo mỹ thuật vừa uốn lượn tự thân con rồng là điều rất khó. Người thợ phải chắp nối gỗ theo kỹ thuật lành nghề mới đạt được cả hai yêu cầu kỹ thuật và mỹ thuật. Trên lớp vì được tạo lớp lớp con rường, trụ non đấu trụ. Để giải quyết chức năng giữ hoành mái, các cấu kiện này còn được làm theo kiểu dáng ống tơ, cho hàng con rường nhẹ nhõm. Hai đầu lại tạo dáng một con thú ghé vai đỡ hoành, hoặc điểm các hoạ tiết hoa lá,  lá hoa nên tuy cả mảng là gỗ xếp lên nhau mà vẫn không có cảm giác nặng nề.
Điều đáng quan tâm về nghệ thuật điêu khắc là các mảng chạm trên con rường, hà diệp, xà nách, xà đùi ở hai gian trái đình. Các nghệ nhân đã thể hiện các đề tài tứ linh: cảnh rồng mớm, rồng âu yếm vờn nhau, cảnh trúc hoá, sen hoá, cảnh đầu người mình chim cũng thể hiện rất sinh động, cảnh rồng mẹ vui với rồng con, ly to lấy chân gìm giữ ly con, ly cắn tai rồng, ly cắn đuôi… Cảnh nào cũng là những đường nét chạm hóm hỉnh, bao hàm nhiều ý nghĩa sâu xa.
Những đề tài nổi trội mà ít nơi có được, đó là mảng chạm khắc dân gian khiêm tốn nép mình ở một số cấu kiện trong đình An Hòa. Trên cảnh ván bưng có cảnh hai người ôm đôi gà chọi trên tay, mà đôi gà vẫn chõ mỏ vào nhau như đang dở cuộc đấu. Giữa khung cảnh người và vật còn có hoạ tiết bông hoa làm tăng thêm ý nghĩa trò chơi gà chọi, một môn chơi truyền thống lành mạnh trong những ngày xuân. Trên xà nách gian giữa, ngoài các cảnh tứ linh, các băng lá sòi sen hóa nghệ thuật còn có cảnh tiên cưỡi rồng, cảnh con hổ nhe răng rất dữ tợn, cảnh chim và sóc đang tranh ăn, cảnh ly leo trên cây ăn quả, cảnh ly đeo chuỗi nhạc ngựa và người đang giành giữ nhau, người lấy chân đạp giữ chân ly. Trên trụ non người thợ còn chạm cảnh hai con thú đang ôm giữ bông hoa sen cách điệu. Tại hàng xà nách phía trong ngoài các đề tài tứ linh sinh động, hoa lá, lá hỏa, vân ám còn nổi lên cảnh người đóng khố leo cây, một tay hái quả, một tay giữ cành. Đây là cảnh hái dừa. Những con người được cách điệu rất to lớn so với cây cối xung quanh.
Trên hạ điệp còn chạm nổi cảnh hai chiếc thuyền rồng. Một chiếc đang đi với bốn người đóng khố chèo thuyền và một chiếc đã khuất. Dòng nước ở đây còn gợn sóng nổi lên hình cá lượn trên sông. Đây không phải là ảnh bơi chải bình thường thấy trong lễ hội dân gian, mà là cảnh bơi thuyền rồng. Chắc nghệ nhân muốn đưa hình ảnh này gắn với sự kiện hoàng tử Linh Lang cùng với tướng hành binh trên sông đi chinh phạt giặc ở phương Nam. Ở đây lại còn cảnh con cốc đang nghếch cổ lên, miệng thì ngậm con cá. Tất cả những mảng chạm khắc ở đình An Hòa đã góp phần nâng cao giá trị cho công trình kiến trúc lên rất nhiều. Các mảng chạm khắc không chỉ phong phú về nội dung, đa dạng về đề tài mà còn được thể hiện bằng những tay nghề điêu luyện làm cho những mảng trang trí ở đây có hồn, sống được cùng thời gian. Nhiều cơ quan Trung ương và địa phương đã về sao chép, phục chế để được giới thiệu rộng rãi những tác phẩm nghệ thuật đình An Hòa với nhân dân trong nước và thế giới. Đó là niềm tự hào cho địa phương.
Đình An Hòa là một công trình quy mô nên thờ cúng có quy cách lớn và được làm rất kỳ công, có giá trị về mặt nghệ thuật.
Trong số bốn cỗ ngai ở đình có ngai cỗ tương đối lớn có quy cách 1,4x0,8x0,7m. Đây là hai ngai thờ Linh Lang đại vương và phò mã bản thổ tôn thần. Ngai được sơn son thiếp vàng lộng lẫy, rất kỳ công trong nghệ thuật tạo dáng và điêu khắc. Tay ngai làm kiểu rồng chầu, sáu trụ chạm sáu rồng leo, đan xen vân ám và các vòng tiện trang trí. Sập ngai là nơi đặt long bài cũng được tạo dáng rất đẹp theo kiểu chân quỳ dạ cá. Từ mặt sập, cổ sập, bệ dưới của sập cũng được gia công nghệ thuật bằng các đường chỉ viền, các băng hoạ tiết, lá sòi, cánh sen chạy quanh với các ô mảng chạm thong phong, tứ linh hoặc hoa lá rất sinh động.
Chiếc hương án ở chính gian giữa cao 1,5x1,7x0,75m cũng được làm rất cầu kỳ. Hương án chia làm hai phần có thể tháo rời một cách dễ dàng. Phần trên gồm mặt hương án, được làm to thân dưới, lại trang trí rất hài hòa. Từ bao loan với dáng rồng, ly đến các băng hoa lá viền mép, những khuông chạm tứ linh, hổ phù cũng được nhấn tỉa tài tình. Thân dưới hương án được tạo nhiều ô mảng theo các đề tài long chầu, phượng vũ, long mã đi trên nước, rùa ẩn hiện trong ao sen vừa cách điệu vừa rất hiện thực. Chính giữa thân hương án có cả mảng chạm long cuốn thuỷ, được đục kênh bong vừa đẹp vừa tổng thể, vừa hấp dẫn ở từng chi tiết. Hai bên hương án cũng được trang trí công phu theo nhiều đề tài.
Chiếc bát hương đồng cao 0,5m cũng là hiện vật tiêu biểu. Bát hương có hình trụ, bên tai là hai con rồng nổi vươn cao bám giữ thân bát hương. Hai bên còn đúc nổi hoạ tiết ly chầu, phượng múa, đôi hạc chầu, hổ phù, long mã và trên miệng bát hương còn có hình mặt nguyệt, âm ám, phía dưới nổi lên bốn chữ  “Thánh cung vạn tuế” hài hòa với tổng thể. Tạo được một bát hương đồng mà họa tiết nổi lên như dính trên thành, trên miệng quả là một kỹ thuật khó, hơn nữa, các họa tiết trên bát hương đồng lại rất cầu kỳ. Đó là những thành tựu đáng tự hào về nghệ thuật cổ truyền của dân tộc.
Bức võng cố định rất lớn đã làm tăng vẻ uy nghiêm và vẻ đẹp cho công trình. Hệ thống riềm trên hai bức võng tạo dáng độc đáo được lắp vát nghiêng chếch về phía trước đã tạo thêm độ sâu và rất hài hòa với bố cục. Trên cùng cửa võng có những hoạ nét lượn cong chầu nguyệt, riềm hai bên chạm long chầu, phượng múa, ly và quy. ở giữa bức võng có bốn chữ "Thiên định phúc thần" (vị phúc thần do trời đưa xuống). Bức của võng được đục chạm trổ tinh xảo, lại bố cục đăng đối nên rất hòa nhập với tổng thể mảng chạm khắc của công trình trên.

Theo Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam

Đình Văn Xá thuộc thôn Văn Xá, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, một ngôi đình có niên đại sớm nhất ở Hà Nam còn lại đến nay và cũng được xếp hạng sớm nhất từ năm 1962. Đình quay hướng chính Nam đúng trục của trời đất (Bắc - Nam, Đông - Tây), toạ lạc trên một khu đất cao ở giữa làng, không gian thoáng đãng.


Đình Văn Xá thuộc thôn Văn Xá, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, một ngôi đình có niên đại sớm nhất ở Hà Nam còn lại đến nay và cũng được xếp hạng sớm nhất từ năm 1962. Đình quay hướng chính Nam đúng trục của trời đất (Bắc - Nam, Đông - Tây), toạ lạc trên một khu đất cao ở giữa làng, không gian thoáng đãng. Xưa kia đây là khu rừng rậm, cây cối um tùm. Trước đình là hồ nước có diện tích 9800m vuông, ao đình và đặc biệt hai bên đầu Đông, Tây đại đình có hai giếng nhỏ là hai mắt rồng, trong đó có giếng phía tây là “giếng thiêng” gắn liền với truyền thuyết về nhân vật thờ ở địa phương.

Miếu thiêng có giếng thông thư

Quả bòng cẩn kín tin đưa đi về…

Sông Hồng, sông Long Xuyên, sông Châu chảy qua đất Lý Nhân, nhìn trên bản đồ bao bốn mặt ngôi đình như là tứ giác nước mà đình Văn Xá là não thuỷ.

Đình Văn Xá thờ 4 vị thần: Thánh phụ hiệu: Cao Minh linh thuý huý là Cao Văn Phúc, Thánh mẫu huý là Từ Văn Lang, Cao Minh linh ứng huý là Câu Mang huynh và Cao Minh linh nghiệm huý là Câu Mang đệ.

Thánh phụ nguyên phát tích ở xã Văn Lâm (Thanh Liêm) vào thời vua Lý Thái Tổ (1010-1028), tính tình khoan dung, độ lượng song nhà nghèo khổ sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, mò cua, bắt cá. Thánh mẫu quê ở xã Văn Xá (Lý Nhân) đức hạnh thuần hoà, nhà nghèo quanh năm mò cua, bắt ốc sinh nhai. Hai người gặp nhau cùng chung cảnh ngộ nên duyên vợ chồng, một mối tình đẹp của bao đôi lứa người Việt. Khi trời đất giáng hoạ dịch bệnh hoành hành không người cứu giúp, Thánh phụ, Thánh mẫu đã hiển ứng gọi gió, mây mưa làm thuốc cứu dân. Thánh mẫu còn giúp triều đình vua Lê Thái Tổ niên hiệu Thuận Thiên (1428-1433) dẹp loạn cướp bóc cho quốc thái dân an. Khi các vị hoá, triều đình ban sắc phong, dân xã lập đền miếu phụng thờ để ghi nhớ ơn đức với dân với nước.

Dọc hai bờ sông Châu và sông Long Xuyên (con sông cổ của huyện Lý Nhân) có nhiều di tích thờ Câu Mang thuỷ thần như Mạc Hạ (Công Lý), đình Tróc Nội (Nhân Đạo), Phú Khê (Bắc Lý), Vạn Thọ (Nhân Bình), Thượng Nông, Hạ Nông (Nhân Nghĩa). Song thuỷ thần Câu Mang ở những di tích đó đều sinh ở thời Hùng Vương do người mẹ đi tắm, giao long quấn vào người từ đó mang thai. Vua sai ngài đi trị thuỷ, đi đến đâu viết thư bắn xuống thuỷ cung tức thì nước rút hết. Ngài còn có công cùng Tản Viên Sơn Thánh đánh tan quân xâm lấn bằng hai đường thuỷ bộ, được phong là Cao Mang Đại Vương Thượng đẳng phúc thần. Truyền thuyết về hai vị Thuỷ Thần được thờ ở đình Văn Xá hoàn toàn khác, Thánh phụ, Thánh mẫu đi kiếm ăn trên sông Trung Hà thuộc đất An Bài (Bình Lục) vớt được hai quả trứng trắng nổi trên mặt nước giữa sông mang về nhà nấu không chín đập không vỡ. Một trăm ngày sau nở ra một đôi Bạch Xà trên đầu có chữ Vương, dưới bụng có chữ Câu Mang huynh và chữ Câu Mang đệ. Hình ảnh quả trứng này có ý nghĩa triết lý sâu sắc. Phải chăng là quả trứng tiên thiên thái cực vô sinh vô diệt, vô nguồn sinh ra muôn loài. Nó lại làm ta liên tưởng đến việc sinh trăm trứng của bà Âu Cơ. Khi nước sông dâng to, đê vỡ, các vị đã hiện về, đầu gối bên này, đuôi chạm bên kia nằm chặn ngang dòng nước chảy, Trấn quan coi đê cùng dân làng thừa kịp hộ đê. Đó là một hành động kỳ vỹ, biểu hiện ước mơ làm những việc phi thường của người dân lao động xưa.

Mặc dù hệ thống cột đồng trụ, hai cổng phụ, bình phong, tường bao mới được xây dựng những năm gần đây và hậu cung ba gian dài 11m, rộng 5m xây dựng bít đốc dập cấp, thức kiến trúc chồng rường, bẩy tiền, kẻ hậu…được dựng thêm vào thời Nguyễn về sau tạo thành bố cục mặt bằng hình chữ Nhị, song những công trình đó vẫn hài hoà với kiến trúc cổ của toà đại đình. Ban đầu đình Văn Xá chỉ có một toà Đại đình cò được thờ bằng sàn gỗ? Dấu tích còn lại là những lỗ mộng ở hai cột cái phía trong gian giữa.

Toà đại đình đình Văn Xá là một công trình kiến trúc nghệ thuật có quy mô lớn, bảo tồn được những yếu tố nguyên gốc về kiến trúc, điêu khắc, đồ thờ cổ thư đậm đà phong cách đầu thế kỷ XVII.

Đại đình có chiều dài 21m, lòng rộng 8,8m, ba gian hai chái bốn mái cong, lợp ngói nam. Trải qua nhiều đợt trùng tu với nhiều loại ngói khác nhau song toàn bộ mái trước đình vẫn giữ được loại ngói mũi hài độc đáo, mỗi viên có chiều dài 40cm, rộng 29cm, có viên nặng từ 9 đến 11kg. Mũi ngói trang trí hoa cúc cách điệu cùng văn xoắn, đao mác. Có lẽ duy nhất đình Văn Xá có loại ngói này.

Hãy hình dung mấy trăm năm trước đồng nước mênh mông thì đình Văn Xá lật ngược lại giống như một con thuyền to lớn vững chãi uy nghi và rất đẹp bồng bềnh vừa thách thức lại vừa bay bổng. Tỷ lệ vàng giữa thân và mái: thân 1/3, mái 2/3 là tỷ lệ của người Việt cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII. Hiện nay trên cả nước rất ít những ngôi đình cùng niên đại còn giữ được tỷ lệ này như đình Văn Xá. Tiếp giáp giữa sân, qua hiên vào gian giữa (gian của thần) tới gian thờ được lát bằng đá tấm, đình Văn Xá còn lưu giữ được. Để thông ân dương nền của đình, đền, chùa ngày xưa phổ biến là nền đất đầm kỹ. Song hình Văn Xá xử lý theo cách riêng như đã nêu. Đá - sản phẩm của tự nhiên người xưa cho là sản phẩm của vũ trụ, trường tồn qua thời gian, dù rằng có câu: “nước chảy đá mòn” mang ý nghĩa khác hẳn. Đây cũng là một nét độc đáo nữa của đình Văn Xá. Bộ khung chịu lực của toà đại đình bằng gỗ lim già có 6 vì, mỗi vì có 4 hàng chân cột đều được kê trên chân tảng đá xanh vuông 1,2m, mặt nổi gương tròn, xung quanh tạo thành cánh xen cách điệu. Cột cái có chu vi 2,5m, cao 4,m. Cột chân có chu vi 1,25 cao 2,7m. Bốn cột góc cao 3,3m. Bộ khung ấy thấp khoẻ, cột đúng nghĩa “to như cột đình” bám chặt vào đất tảng nền của cư dân nông nghiệp luôn khao khát mở rộng đất đai. Không chỉ có thế, đất đình Văn Xá tuy không còn rộng như xưa nhưng nay vẫn còn bao quanh hai bên phía sau đình. Với người Việt xưa quá trình mở đất là ở phương nào có thể và chỉ dừng lại trước biển cả. Đình Văn Xá ánh xạ lịch sử là ở chỗ đó.

Thức kiến trúc cả bốn vì (gian giữa và hai gian bên) theo kiểu “giả” giá chiêng, chồng rường, mê cốn, kẻ, đầu kẻ “giả bẩy”. Hai vì trái kết cấu hài hoà giữa các hạng mục: trụ cái (cột trốn) câu đầu, kẻ góc, xà đùi, xà nách cùng 4 hàng con rường đỡ hành mái.

Vì nóc đình Văn Xá thể hiện lối giả giá chiêng, hai bên chồng rường. Đặc biệt, đội thượng lương là chiếc đấu hình thuyền cong ngồi trên lưng con rường bụng lợn. Đứng trên đấu thắt đáy có những hàng trụ trống cột, hai bên là hai ván bưng nhỏ. Từ thân cột sang hai bên  là hai con rường cụt, một đầu ăn mộng cột trốn, một đầu ăn mộng vào mái đỡ hoành. Câu đầu khá lớn, to mập, hai bên bào soi vỏ măng, nằm ngay trên một đỉnh đấu vuông thắt đáy trên đầu cột trái. Đuôi kẻ ăn mộng én vuông vào đầu cột cái nối qua đầu cột quân nhô ra ngoài (giả bẩy) đỡ mái hiên. Trên lưng kẻ là ván dong đỡ hoành. Đặc biệt ở 4 vì góc hai gian chái, mỗi gian có hai kẻ góc (kèo cổ ngỗng, kèo moi). Thường những năm về sau người ta cắt đi ở phần cột trốn, không đẩy lên thượng lương.

Chạm khắc trên kiến trúc được thể hiện ở hầu hết các cấu kiện (cả mặt trong lẫn mặt ngoài) với kỹ thuật trạm nổi kênh bong với nhiều đề tài khác nhau thể hiện bàn tay điêu luyện của các hiệp thợ, các nghệ nhân dân gian xưa. Mặt ngoài vì nóc gian giữa chạm nổi các hình văn xoắn lớn như ước vọng cho sấm chớp mây mưa để cầy cấy, mùa màng bội thu. Kế thừa và gìn giữ thức kiến trúc giữa thời Trần với thời Mạc, cột trốn mang hình thức đấu còn rất nhỏ, lá đề ở trung tâm. Trên mặt lá đề là hình tượng trang trí thống nhất một đề tài. Cột trốn như bị ẩn đi, bằng nghệ thuật chạm khắc từ thân cột trên sang hai bên là hai con rường cụt. Đường diềm kết hợp ở nhiều thân gỗ con rường.

Trên các bộ vì nóc, đề tài rồng chầu khá phổ biến, nhưng dưới nhiều hình thức khác nhau: rồng chầu lá đề, hoa cúc cách điệu, chầu thú. Kẻ ở các vì hơi cong có đường kính lớn tới 47cm được trạm hình rồng dữ tợn. Thân rồng được nhấn tỉa những đao nhọn. Đầu rồng vuốt ngược về phía sau như đang chuyển động. Phía sau là hình con ly đang nhảy múa. Thân kẻ trạm lá hoả, đường soi ống tơ mềm mại. Các cốn ở chái trạm khắc nền rồng đa dạng, điểm xuyết các bông cúc mãn khai cách điệu, lá lật, lá hoả, vân xoắn cầu kỳ tinh xảo.

Câu đầu ở các vì khá lớn, cân xứng hài hoà với cột cái. Lòng câu đầu trạm nổi hai hình dạng lá sòi kết hợp vân xoắn, hoa cúc cách điệu. Giữa câu đầu gắn ô vuông chém góc hình cánh sen. Ô vuông chém góc là sản phẩm của thế kỷ XVII, không phải là tư duy nông nghiệp mà là tư duy của kinh tế thương mại. Hiện tượng này gợi ý ở vùng này có dòng họ gắn với kinh tế thương thuyền. Ở các di tích dưới câu đầu gian giữa là đầu dư tạo hình đầu rồng, ở đình Văn Xá đầu dư được thay thế bằng ghé tạo hình ghê lấy vai gánh đỡ câu đầu, đây là điểm độc đáo ít gặp. Ở con rường thứ 3, mặt trong hai vì gian giữa chạm mỗi bên một con lân ở phía trên nhang án, mặt ngoảnh ra ngoài vẻ xét nét hàm ý kiểm tra tư cách và nội tâm của người vào lễ thánh. Ở mặt trong xà đùi hai gian chái và mặt ngoài đầu kẻ hiên ngang bên phải có bức trạm trúc hoá long điều này cũng khá quen thuộc, nhưng bất ngờ ở đây là trúc lại có hoa một điều chưa bao giờ có, vô lý nhưng lại có lý ở lối nhìn siêu thực với cảm quan và tâm lý người Việt xưa mong muốn điều khác thường tốt lành xảy ra, khao khát sinh sôi nảy nở những người tài giỏi ra giúp nước yên dân.

Hai gian trái đại đình, mỗi gian có hai kẻ góc. Một chiếc hình đầu rồng thân thu nhỏ về phía đuôi. Chiếc bên chạm hình đầu phượng, con thú nhỏ đang nô đùa. Hai chiếc kẻ chạy suốt từ thượng qua cột trốn xuống cột góc ra đầu góc đao lớn. Gánh đỡ góc đao trước và sau đầu hồi phía tây đình là hai con hổ với tư thế khác nhau một con trong tư thế ngồi chầu. Một con trong tư thế hai chân trước nắm bắt một con thú. Đây cũng là một nét độc đáo của đình Văn Xá. Có ý kiến cho rằng đó là do hai hiệp thợ, vì góc đao hồi phía tây chỉ để con guột nở xoè trực tiếp gối lên trụ tường. Lại có ý kiến: Theo truyền thuyết sau đại đình ngày xưa có một khu vườn rậm rạp cây cối um tùm như rừng. Một hôm có hai con hổ về ngồi chầu hai bên từ đó dân làng gọi là :“vườn Chầu”. Vì vậy các hiệp thợ chạm khắc hình hai con hổ gánh đỡ đầu đao để ghi lại điển tích. Dân làng còn làm hình tượng hai con hổ nằm phủ phục trong cũi gỗ để thờ hai bên chầu vào hậu cung và rước trong kỳ lễ hội “Đồng Văn” với xã Văn Lâm (Thanh Liêm).

Đình Văn xá là công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu độc đáo còn lưu giữ nhiều đồ thờ cổ thư quý hiếm mang phong các thời Mạc, hậu Lê hương án, long ngai, kiệu song loan, chúc văn, sập thờ…

Hiện vật sớm nhất là chiếc mâm gỗ đựng hoa quả hình bát giác sơn son thếp vàng được trạm khắc nhiều đề tài rồng chầu hoa cúc, rồng dáng, cánh sen dẹo mang giá trị trạm khắc thời Mạc (cuối thế kỷ 16). Mâm bày lễ vật dâng thần linh hàm chứa ý nghĩa dịch học (bát giác = bát quái).

Trong Hậu cung đình có một nhang án nhỏ dại 1,2m cao 0,6m được trạm hoa văn dày đặc trong các ô hộc. Các đường phân chia nổi khối thể hiện những khúc rồng. Trên xà đấu tại đôi rồng chầu hoa cúc, cuốn xung quanh xà, thân rồng rất dài đặc biệt rồng chạm nằm ngang nhìn thẳng chính trung tâm. Hiện tượng này xuất hiện từ trước, đặc biệt vào thời Lê sơ.

Sau ngày phổ biến trong trang trí kiến trúc và hiện vật ở kinh đô Phú Xuân thời Nguyễn ở Huế.

Cỗ kiệu song loan độc đáo, bành kiệu trạm nổi phù điêu đầu phượng. Thân kiệu trạm khúc hoá long, đuôi kiệu trạm hình đuôi Phượng, dáng đao bay về phía sau. Trên Long đình mặt trước và sau có hai bức trạm thông phong. Một mặt là hình Lưỡng Long chầu nguyệt, một mặt là hai con phượng chầu chữ thọ.

Đình Văn Xá ẩn chứa nhiều tín hiệu cần được đọc và giải mã từ Thành hoàng đến vị trí, không gian, kiến trúc, điêu khắc…Trên các góc độ lịch sử, xã hội, tín ngưỡng, mỹ thuật… Bài viết này chỉ giám nói đôi điều sơ khởi và thô thiển trên hành học hỏi, hiểu hành về một trường hợp cụ thể trong kho tàng văn hoa dân tộc.


Theo Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam

Quần thể di tích thắng cảnh Bát cảnh sơn nằm ở xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng, Hà Nam.

Từ thị xã Phủ Lý, theo quốc lộ 22 đi 13km là đến quần thể danh thắng Bát cảnh sơn (hoặc có thể đi từ Đồng Văn theo quốc lộ 60).


Xã Tượng Lĩnh được thiên nhiên ưu đãi với địa hình tự nhiên có nhiều tiềm năng phong phú. Dãy Bát cảnh sơn đứng bên tả ngạn sông Đáy, dựa lưng vào vòng cung Nam Công (Kim Bảng – Hà Nam và Tuyết Sơn, Hương Tích – Hà Tây), tạo thành thế núi hình sông kỳ thú. Xét theo tổng thể ở phạm vi rộng thì Bát cảnh sơn là một cụm du lịch của quần thể Hương Sơn bởi hai thắng cảnh này rất gần gũi, tiếp giáp với nhau liền mạch trong dãy núi đá vôi Hà Nam – Hà Tây. Theo vị trí địa lý hành chính. Bát cảnh sơn là "tiểu thắng cảnh", là cửa ngõ Hương Sơn, nằm trong xã Tượng Linh, nơi ngã ba của 3 huyện Kim Bảng (Hà Nam), Mỹ Đức, Ứng Hoà (Hà Tây).

Từ lâu, dãy Bát cảnh sơn (dãy núi có 8 cánh) được coi là một thắng cảnh của trấn Sơn Nam. Theo Lịch triều hiến chương loại chí (phần Dư địa chí) của Phan Huy Chú thì vào thế kỷ thứ XVI, Nghị tổ Trịnh Doanh qua đây chiêm ngưỡng đã ví Bát cảnh sơn với Tiêu Tương bên Trung Quốc và cho lập hành cung để đi về thưởng ngoạn. Xưa kia, ở Bát cảnh sơn có 8 ngôi chùa và một ngôi miếu thờ thổ đại thần linh được bài trí xây dựng theo thuyết bát quái ngũ hành. Có thể do tám ngôi chùa mà vùng núi này được đặt tên là Bát cảnh sơn? Ngày nay, mặc dù một vài cảnh quan đã bị hủy hoại vì chiến tranh nhưng hàng năm khách vãn cảnh chùa Hương và khách du lịch thập phương vẫn về thăm với một số lượng khá đông.

Bát ảnh sơn bao gồm:

1. Đền Tiên Ông (đền Ông) được xây dựng vào đời vua Trần Nhân Tông trên lưng chừng núi Tượng Lĩnh, cao khoảng 200m giống hình con vui phủ phục (nhân dân thường gọi là voi quỳ). Núi Tượng Lĩnh là điểm đầu tiên trong hệ thống Bát cảnh sơn.

Từ km 13 quốc lộ 22, theo đường đá thoai thoải tới phía bắc chân núi Tượng Lĩnh, qua 5 gian nhà khách, 3 gian nhà tổ, du khách đi 108 bậc đá lên đền. Đền hình chữ tam: tiền đường 5 gian, trung đường 3 gian, và hậu cung 1 gian. Đền trước vốn nhỏ, sau nhiều lần trùng tu mới có được quy mô đồ sộ như ngày nay. Tiền đường được kiến trúc kiểu chồng diêm tám mái cong, 4 góc đầu dao hình rồng mềm mại, mái lợp ngói nam đều đặn. Tòa trung đường xây kiểu hồi văn cánh bảng tam đấu, hậu cung cuốn vòm. Ở đây còn lưu giữ được nhiều thần phả, sắc phong và nhiều đồ thờ tự quý hiếm như hoành phi, đại tự, câu đối, bát hương bằng đá, bằng đồng. Đặc biệt ở đây còn có 2 pho tượng, 1 bằng gỗ, 1 bằng đồng được thờ trong hậu cung.

Đền Tiên Ông thờ Nam thiên đại thành hoàng Thánh tổ Thiên vương Bồ Tát. Sự tích Tiên Ông được truyền thuyết kể rằng cha của Tiên Ông quê ở Từ Sơn (Bắc Ninh), là quan to trong triều nhà Trần, có tới 23 thê thiếp mà vẫn chưa có con trai. Đến khi đi kinh lý ở trấn Sơn Nam, tại xã Thịnh Đại (nay là xã Đại Cương) huyện Kim Bảng, thân phụ ngài lấy tới thê thiếp thứ 24 mới sinh được ngài. Ngài sinh ra đã có tướng mạo khác thường, lớn lên chỉ một lòng đèn hương thờ Phật. Ngài chu du khắp nơi tìm thầy học đạo. Vào một ngày, ngài đến khu Quang Thừa (nay là xã Tượng Lĩnh) thấy dãy Bát cảnh sơn hùng vĩ bèn lập một ngôi chùa dưới chân núi động Tam Giáo để thờ Phật và thờ tổ tiên cha mẹ, gọi là chùa Tam Giáo. Sinh thời ngài có rất nhiều công lao đối với nhân dân địa phương như cứu giúp kẻ nghèo khó, chữa bệnh cứu người. Khi đắc đạo, ngài hóa thân vào cây "Đại nại" và dặn rằng hãy lấy cây gỗ đó để tạc tượng thờ, còn lấy đồng tạc tượng thờ thần. Dân nhớ ơn lập đền thờ tạc tượng gỗ và tượng đồng theo lời dặn của ngài.

Các pho tượng rất linh thiêng, trải bao lần đền bị chiến tranh giặc giã phá hủy, pho tượng đã nhiều phen bị mang đi nhưng không ai đụng tới được. Nguyễn Hữu Chỉnh cũng đã mang tượng đồng ở đền thờ ngài đi đúc tiền đồng nhưng búa rìu không chạm được vào tượng, tượng chỉ đổ mồ hôi, còn quân lĩnh chạm vào tượng thì bị rìu chặt vào chính chân mình. Nguyễn Hữu Chỉnh sợ hãi khấn rằng, nếu Ngài linh thiêng thì hãy cho sông Châu bên mưa, bên tạnh. Quả nhiên là ứng nghiệm. Cuối cùng, Nguyễn Hữu Chỉnh phải sai quân lính mang tượng trả lại về đền. Nhiều vị vua, chúa như Lê Thái Tổ, Lê Dụ Tông, Trịnh Doanh, Trịnh Tùng, Trịnh Sâm, Mạc Phúc Hải đã tới thăm đền. Tương truyền, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Oánh là con cầu tự của ngài.

Nhớ ơn ngài, cứ đến ngày rằm tháng 6 hàng năm, hai làng Thịnh Đại, Quang Thừa tổ chức lễ hội rất long trọng, khách thập phương ở nhiều nơi cùng về tham dự.

2 Chùa Ông

Phía trước đền Tiền Ông là một hồ nước lớn hình bán nguyệt bao quanh phía bắc núi Tượng Lĩnh. Hồ có diện tích 320 mẫu, có nước quanh năm, độ sâu trung bình là 4 đến 5m. Truyền thuyết kể lại trước đây ở giữa hồ có một ngôi chùa, gọi là Chùa Ông. Năm 1901, do ảnh hưởng của lũ lụt, chùa bị cuốn trôi. Hiện nay, hồ có nhiều loại cá to, diện tích mặt nước có thể khai thác du thuyền và câu cá.

3 Chùa Tam Giáo
Từ đền Tiên Ông, men theo sườn núi khoảng 1km là đền chùa Tam Giáo, Chùa Tam Giáo xưa kia có hàng trăm gian với hàng trăm pho tượng Phật uy nghi tráng lệ. Truyền thuyết kể rằng, khi xây dựng chùa, có rất đông thợ làm. Tiên Ông có nồi cơm và lọ muối vừng ăn hết lại đầy.

Chùa được xây dựng dưới chân núi, ở đây có một suối nước chảy từ lòng núi ra, tương truyền, dòng suối này mỗi ngày chảy ra hai bát gạo và hai đồng tiền đủ cho nhà sư sinh sống. Sau có kẻ tham biết chuyện đã đục cho miệng suối rộng ra, từ đấy gạo tiền không chảy ra nữa.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chùa là căn cứ hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Trung ương và tỉnh, chùa từng là kho tiếp liệu của công binh xưởng Liên khu III, lại vừa là Văn phòng thường trực Liên khu ủy và Ủy ban kháng chiến Liên khu III những năm 1947– 1950. Trên đường từ đền Tiên Ông đến chùa Tam Giáo trước đây có rất nhiều hang động đẹp, đến nay do biến động của thiên nhiên, do sự khai thác của con người, nhiều hang đã bị phá hủy.

Chùa Tam Giáo mới được khôi phục lại những năm gần đây. Chùa hình chữ đinh, có 5 gian đại tế và một hậu cung, đại tế tạo 8 mái chồng diêm, lợp ngói nam.

4. Chùa Kiêu, chùa Bà, chùa Dâu, chùa Cả, chùa Bông, chùa Vân Mộng

Tất cả những ngôi chùa trên từng tạo thành một quần thể vừa linh thiêng, vừa là danh thắng đẹp mắt. Tiếc rằng, cho đến nay, 6 ngôi chùa kể trên đều không còn, có chùa đã bị san bằng, có chùa chỉ còn lại nền móng.

Cách chùa Tam Giáo 150m đi ngược lên đỉnh núi là chùa Kiêu. Chùa Kiêu nằm trên đỉnh núi cao, từ đây có thể bao quát một vùng rộng lớn phía đông nam xã Tượng Lĩnh. Hiện nay chùa chỉ còn nền móng và một động nhỏ rộng 10m2. Dọc đường có 3 tấm bia khắc vào vách núi. Bên cạnh động có khối đá vuông mặt nhẵn nhụi trên có ghi chữ Hán: "Nhật nguyệt trường quang". Tục truyền ngày xưa cứ đêm trăng sáng, Tiên Ông cùng ngồi đánh cờ với các quan nhà trời.

Từ chùa Kiêu, vượt qua đường đèo và 3 thung lũng, qua 5 ngọn núi là đến chùa Vân Mộng. Tương truyền chùa Vân Mộng là nơi mà Thiền sư Nguyễn Minh Không đã từng tu hành và trụ trì. Ngôi chùa cũng đã đi vào sách vở với ghi chép của Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ. Tục truyền, vua nhà Lý bị đau mắt không thuốc nào chữa khỏi. Nghe tin ở chùa Vân Mộng có Quỷ Cốc tiên sinh thông tuệ thiên địa bèn đến cầu thì được biết nhà vua đau mắt là do động huyệt xoáy rồng ở khúc sông Hồng, cần có người hiến tế thì nhà vua mới khỏi bệnh. Sau có ông bà bán dầu Vũ Phục nhảy xuống sông, quả nhiên nhà vua lành mắt.

Chùa Vân Mộng nằm trên sườn núi chênh vênh quyện cùng khói mây huyền ảo, xung quanh có rất nhiều hang động lớn nhỏ kỳ thù bí ẩn, có những hang sâu 30m, rộng khoảng 300m2 như hang Dơi, hang Bạc, hang Vàng… Từ đây có thế đến thung Bế, thung Vạc của xã Tân Sơn. Hiện nay chùa chỉ còn nền móng cũ và một vài hiện vật như bia khắc vào vách núi, bát hương đá, đá tảng kê chân cột. Phía tây chùa có núi Hai Quả cao chót vót, lưng chừng núi có hang Dơi, vì ở đây có rất nhiều dơi đến trú ngụ, có những con to như cái quạt giấy. Cửa hang hình miệng rồng, hang sâu 50m. Đặc biệt trong hang có một hồ nước nhỏ, vòm hang có nhiều nhũ đá tự nhiên với nhiều hình thù kỳ lạ, đẹp mắt.

Ngoài ra, ở vùng Bát cảnh sơn xưa kia còn các ngôi chùa Bà, chùa Dâu, chùa Bông, chùa Cả hiện nay không còn dấu tích để lại.

Địa linh nhân kiệt, Bát cảnh sơn không chỉ nổi tiếng là danh thắng mà còn nổi tiếng về người hiền tài. Huyện Kim Bảng có 5 nhà khoa bảng thì Tượng Lĩnh có tới 3 người. Tượng Lĩnh còn được coi là nơi phát tích truyện trầu cau vì ở đây còn có suối Cau trong dãy núi đá vôi (nay gọi là suốt Tân Lang), có chợ trầu (này là chợ Dầu).

Với cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, với những dấu tích xưa còn lại, quần thể Bát cảnh sơn nếu được khai thác đúng hướng chắc chắn sẽ trở thành một điểm du lịch sinh thái – văn hoá hấp dẫn trên đất Kim Bảng, Hà Nam.

(Nguồn: hanam.gov.vn)

Cách Hà Nội 80km về phía Nam, Kẽm Trống (xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn) là một danh thắng độc đáo được tạo ra bởi sông Đáy là ranh giới giữa Hà Nam - Ninh Bình. Năm 1962, Kẽm Trống được công nhận là một di tích thắng cảnh quốc gia. Xưa kia, khi qua nơi này, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã viết:


"Hai bên thì núi, giữa thì sông,

Có phải đây là Kẽm Trống không?

Gió dập sườn non khua lắc cắc

Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.

Ở trong hang núi còn hơi hẹp,

Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.

Qua cửa mình ơi, nên ngắm lại,

Nào ai có biết nỗi bưng bồng".

Những dãy núi quanh Kẽm Trống có nhiều hang động. Nhưng được nhắc đến nhiều nhất trong đó là Địch Lộng. Nơi này nổi tiếng bởi ngoài vẻ đẹp của động, còn có một khu đình chùa cổ kính. Quần thể động - chùa Địch Lộng đẹp tới mức đã được vua Minh Mạng ban tặng cho 5 chữ "Nam thiên đệ tam động", có nghĩa là động đẹp thứ ba ở trời Nam.

Tương truyền, vào năm 1739, một tiều phu đi kiếm củi, leo lên núi đã phát hiện ra cửa động. Khi vào trong, thấy có nhiều nhũ đá đẹp, đặc biệt trông thấy một nhũ đá có hình giống như tượng Phật nên lập bàn thờ Phật ở đó. Đến năm 1740 thì hình thành chùa.

Nói Động - Chùa Địch Lộng là nói gọn, chứ thực ra tại đây còn có đình với 16 cột đá nguyên khối, nên còn gọi là "đình đá"; có đền thờ Lý Quốc Sư; hồ bán nguyệt, 5 tháp cao ba tầng; ba gian chùa Hạ, ở gian giữa có treo cuốn thư chữ Hán "Lưu Ly Bảo Điện" nói lên sự quý giá của ngôi chùa...

Từ Chùa Hạ qua phủ Đức Ông, tiếp tục leo lên thêm 105 bậc đá nữa sẽ đến hang động khiến bạn không thể không sửng sốt trước sự kỳ diệu của tạo hóa và sức tưởng tượng vô biên của con người. Trên cửa động đề 6 chữ: "Nham Sơn động, Cổ Am tự" là tên "cúng cơm" của Động - Chùa Địch Lộng.

Hai bên cửa động có hai tượng Hộ Pháp, trên mái vòm hang đá cao 8 mét treo quả chuông nặng gần một tấn, được đúc từ thời nhà Nguyễn. Sân trước động có phủ thờ Bà Chúa Thượng Ngàn, phủ thờ Đức Thánh Mẫu. Cũng tại đây, hai "giếng ngọc" quanh năm đón những giọt nước từ nhũ đá liên tục nhỏ xuống mát rượi, có tượng ông Thiện, ông Ác cưỡi trên sư tử.

Đứng tại "sân" này, phía bên phải là ngôi chùa có "mái" là vòm hang cao khoảng 20 mét, sâu khoảng 30 - 40 mét với khá nhiều tượng được sắp xếp từ ngoài vào trong, từ thấp lên cao. Đặc biệt là 3 pho tượng Tam Thế Phật sơn son thiếp vàng được ban vào thời vua Thiệu Trị và tượng Phật Bà Quan Âm, tượng A Di Đà được tạc bằng đá xanh nguyên khối.

Trong động Địch Lộng còn có hang Tối và hang Sáng. Hang Tối nằm ở phía trái. Vào hang, du khách sẽ cảm thấy choáng ngợp bởi khối nhũ đá to, tròn, nhẵn lì mọc từ nền hang nhô lên. Tục truyền, đó là bầu sữa mẹ của tạo hoá. Từ trên nóc động, có nhiều nhũ đá chảy xuống trông giống như những cột chống trời.

Tại đây, bạn sẽ có cảm giác như lạc vào cõi trùng điệp của đá với đủ mọi hình dáng ngoạn mục. Mỗi không gian của vách động, trần động là một bức tranh nghệ thuật, những nét chạm khắc tuyệt vời của thiên nhiên, đạt đến mức tinh xảo mà con người không thể nào làm được.

Đi hết hang Tối là đến hang Sáng. Ở trên cao, cửa hang Sáng thắt hẹp lại. Một khoảng lộ thiên, khi có gió thổi mạnh vào trong động phát ra âm thanh của đá nghe như tiếng sáo. Vì vậy động mang tên là Địch Lộng, nghĩa là ống sáo thổi gió. Điều độc đáo ở hang Tối và hang Sáng là các thạch nhũ, lấy đá gõ vào thì lanh lảnh như tiếng chuông.

Đó là những thạch cầm của thiên nhiên. Đặc biệt hơn nữa là những dải nhũ đá trong hang lấp lánh bảy sắc cầu vồng và mầu sắc thay đổi theo ánh sáng mặt trời.

Cùng với nét đẹp mê hồn, Động - Chùa Địch Lộng còn là di tích lịch sử trong kháng chiến chống Pháp và là nơi điều trị cho các nạn nhân của bom đạn Mỹ những năm chiến tranh ác liệt./.

Nguồn: hanam.gov.vn

Chiều 13-10, tại Hà Nội, trong buổi làm việc với tỉnh Hà Nam về chiến lược phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, Bộ trưởng Bộ VH, TT&DL Hoàng Tuấn Anh chỉ đạo: Hà Nam cần triển khai xây dựng Dự án khu du lịch Tam Chúc – Ba Sao thành khu du lịch trọng điểm quốc gia.

Vùng đầm lầy hồ Tam Chúc

Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh nhấn mạnh, với lợi thế của mình, Hà Nam phải phấn đấu tạo thành điểm nhấn du lịch trên bản đồ du lịch Việt Nam, cũng như đưa Tam Chúc – Ba Sao như một hình ảnh thương hiệu của tỉnh.

Khu du lịch hồ Tam Chúc thuộc xã Ba Sao huyện Kim Bảng, cách thị xã Phủ Lý khoảng 12km trên tuyến quốc lộ 21A tiếp giáp với Hoà Bình và Hà Tây, cách khu du lịch Hương Sơn khoảng 3km đường leo núi. Tổng diện tích khu du lịch (đã mở rộng) là 4 nghìn ha. Nơi đây là vùng ngập nước núi đá rất độc đáo, với phong cảnh nước non hùng vĩ. Riêng diện tích hồ trên 600ha. Khu vực hồ Tam Chúc đang được tiến hành lập quy hoạch xây dựng dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo ra khu du lịch sinh thái nghỉ cuối tuần bao gồm các sản phẩm du lịch chính là: du lịch trên hồ, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch leo núi, thể thao và vui chơi giải trí…

Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam Mai Tiến Dũng cho biết: Dự án khu du lịch Tam Chúc là một trong những kế hoạch phát triển đầy tiềm năng; là gạch nối giữa khu du lịch Chùa Hương với khu du lịch Vân Long, Hoa Lư, Tam Cốc Bích Động… tạo thành một quần thể các khu du lịch sinh thái vùng ngập nước. Bên cạnh đó, tỉnh Hà Nam cũng xác định quy hoạch hạ tầng kết nối khu du lịch Tam Chúc- Ba Sao với Bái Đính, Chùa Hương; phối hợp với Hà Nội đầu tư tuyến nối Ba Sao, qua chùa Hương với Mỹ Dình và hệ thống giao thông đối ngoại để tạo sự phong phú đa dạng của một quần thể du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách trong nước và quốc tế.

Cũng theo ông Dũng, Ban thường vụ Tỉnh ủy Hà Nam đã ban hành Nghị quyết về phát triển khu du lịch này đến năm 2015. Phấn đấu trong quý IV năm 2011 sẽ đôn đốc đẩy nhanh tiến bộ GPMB, thi công hạ tầng khu du lịch; đồng thời trong tháng 10 này hoàn thành điều chỉnh mở rộng quy hoạch khu du lịch, ban hành cơ chế thu hút, cơ chế quản lý đối với khu du lịch...

Theo báo cáo của tỉnh Hà Nam, doanh thu du lịch của tỉnh tăng bình quân 15%/năm. Trong 9 tháng du lịch ước đạt gần 220 nghìn lượt khách, xấp xỉ 96% kế hoạch cả năm, doanh thu du lịch ước đạt 45,23 tỷ đồng.

Núi Ngọc cách chùa Bà Đanh 100m về phía bắc. Từ thị xã Phủ Lý, ngược sông Đáy 7km, tới bến Đanh, đi tiếp 100m là đến núi Ngọc.

Núi Ngọc

Quả núi nằm sát mặt nước sông Đáy. Núi Ngọc là một ngọn núi đá vôi trong hệ thống núi đá kéo dài từ Hòa Bình xuống hướng tây bắc đông nam qua xã Tượng Lĩnh – Khả Phong – Liên Sơn của huyện Kim Bảng. Tuy nhiên núi Ngọc nằm tách riêng, ngăn cách vệt dãy núi kia bằng con sông Đáy.

Núi Ngọc không cao lắm. Ở đây cây cối mọc nhiều, cây to cây nhỏ mọc chen nhau cành lá xum xuê do dân địa phương có ý thức giữ gìn. Trên núi có một cây si cổ thụ, tương truyền có tới hàng trăm tuổi. Đứng trên ngọn núi, du khách có cảm tưởng như được tách riêng biệt khỏi sự ồn ào náo nhiệt của cuộc sống hiện đại để hòa mình vào sự yên tĩnh thuần khiết của thiên nhiên với núi, sông, cây cỏ. Ngay dưới chân núi có một ngôi đền cổ thờ một ông nghè có công với dân làng.

Nối giữa chùa Bà Đanh và núi Ngọc là một bãi rộng trồng cây lưu niên, chủ yếu là vải thiều, nhãn, tùy thời vụ có xen cả ngô lúa. Nằm hoàn toàn biệt lập với khu dân cư, trên núi, dưới sông, gần đền, gần chùa, núi Ngọc quả là một thắng cảnh của đất Kim Bảng, một địa điểm du lịch đầy hấp dẫn.

Những thân cây rậm rạp trong khu rừng này đang là một miếng mồi béo bở cho bọn lâm tặc. Khu rừng là một kho báu lớn.


Tôi và ông Viễn đi miên man qua các vách đá, vạch những bụi rậm tìm loài cây bạc tỷ. Ông Viễn bảo, cứ cây nào thân nhẵn thín, có màu vàng nhạt, đích thị là cây sưa. Có những chỗ, gốc sưa cứ xin xít nhau, tán lá phủ trùm, chen chúc nhau trong một không gian chật hẹp.

Tôi hỏi ông Nguyễn Trung Thành, Trưởng ban Quản lý Đền Trúc – Ngũ Động Sơn (Thi Sơn, Kim Bảng, Hà Nam) rằng, việc đưa thông tin khu rừng sưa này lên báo, liệu có vẽ đường cho lâm tặc, ông Thành bảo rằng, chẳng đưa ra ngôn luận thì đám “sưa tặc” cũng biết cả rồi. Người dân còn chưa biết, chính quyền còn chưa hay, hoặc chưa có sự quan tâm đúng mức, thì lâm tặc đã tìm mọi cách triệt hạ.

Những cây gỗ sưa lớn, nằm ở vị trí thuận lợi, nhất là ở vạt núi ven sông Đáy, đều đã bị “sưa tặc” cưa sạch. Hiện chỉ còn lại những cây sưa ở trên đỉnh núi, sườn Tây, những chỗ hiểm trở, mà lâm tặc chưa có điều kiện đốn hạ mà thôi.

Việc đưa thông tin này lên báo, các cựu chiến binh mong muốn chính quyền các cấp quan tâm hơn nữa, tìm cách quản lý giúp các cựu chiến binh già, sớm có biện pháp bảo vệ loài cây quý giá trước lòng tham của lâm tặc.

Khu rừng sưa trên núi Cấm thực ra mới được phát hiện vào năm 2006. Sau khi tham quan núi Cấm, một du khách đã thông báo với ban quản lý di tích: “Trên núi Cấm bạt ngàn cây sưa, các cụ nên thông báo với chính quyền để có cách quản lý, trông nom, chứ cứ để tơ hơ giữa trời thế này thì sớm muộn cũng mất hết”.

Từ hàng trăm năm nay, người dân thôn Quyển Sơn và xã Thi Sơn cũng chỉ biết đến một loài cây lạ trên núi. Chẳng ai trồng loài cây này, mà chúng mọc tự nhiên trên đá. Hàng năm, cứ đến mùa xuân, cả ngọn núi Cấm trắng muốt một màu hoa. Tuy nhiên, họ không hề biết rằng đó là cây sưa đỏ, một loài cây cho gỗ có giá vài tỷ đồng một mét khối lõi.

Ông Nguyễn Trung Thành kể rằng, dường như loài cây này chẳng chịu lớn. Cách đây vài chục năm, ông đã thấy thân chúng lớn chừng hơn vòng tay người ôm và đến bây giờ nó vẫn vậy, chẳng có khác biệt nào.

Người dân Quyển Sơn thường lên núi Cấm lấy củi, song không bao giờ chặt cây sưa. Lý do, rìu, dao bổ vào gốc cây, cứ quằn cả lưỡi, chẳng khác gì bổ vào đá. Một số người cưa gốc cây về, kỳ công chẻ ra, song đốt mãi chẳng cháy lại vứt đi. Trong con mắt của người dân nơi đây, loài “gỗ tạp” này chẳng có tác dụng gì, nên dù dân chúng có đói cũng chẳng thèm chặt.
Gốc sưa mới bị lâm tặc cưa trộm.

Thời gian đó, tự dưng thấy loài “cây lạ” bị đốn hạ nhiều, lại được nghe lời cảnh báo của vị du khách, nên các cựu chiến binh trông nom khu di tích đã báo cáo với lãnh đạo xã và âm thầm tiến hành kiểm tra. Các cụ đã mang quả loài cây này cùng mẫu lá đến gặp các nhà khoa học để nhờ xác minh, đối chứng. Kết quả, loài cây lạ trên núi Cấm đúng là sưa đỏ, loài cây mà các “sưa tặc” đang ráo riết truy lùng, cưa trộm, bán sang Trung Quốc.

Ngay lập tức, thông tin về khu rừng sưa được báo cáo lên cấp trên. Ngọn núi Quyển Sơn lập tức được đổi tên thành núi Cấm, khu rừng trên núi thành khu rừng cấm, với ý nghĩa cấm ra vào, cấm xâm phạm, chặt phá… Rất nhiều câu chuyện huyền thoại được dựng lên, như chuyện ông A vào rừng đốn củi bị tai nạn giao thông, bà B lên núi lấy đá làm cảnh bị tâm thần…

Tuy nhiên, những câu chuyện hãi hùng về sự xâm phạm núi Cấm chỉ dọa được người dân cả tin, chứ không dọa được đám “sưa tặc”. Kể từ ngày loài sưa đỏ có giá bạc triệu, bạc tỷ, đám “sưa tặc” đã biết đến sự tồn tại của khu rừng sưa này. Thi thoảng lại có một gốc sưa biến mất, cứ như thể nó bị bốc hơi.
Từ gốc sưa bị chặt trộm, những cái nhánh lại mọc lên.

“Hoành tráng” nhất là vụ trộm xảy ra vào cuối năm 2008. Chừng nửa đêm, ông Thành cùng các cựu chiến binh đang ngủ trong đền, bỗng nghe thấy tiếng động trên núi, giống tiếng cưa xẻ. Các cựu chiến binh lập tức mang đèn pin, gậy gộc chạy lên núi Cấm. Tuy nhiên, lên đến nơi, thì không thấy bóng người nào cả, chỉ thấy mặt nước sông Đáy vẫn đang xao động. Mọi người đoán rằng “sưa tặc” đã bỏ trốn.

Chạy tiếp lên phía rừng sưa, các cựu chiến binh đã choáng váng khi thấy 30 cây sưa bị đốn hạ. Cây nào cây nấy đều đã được cưa thành khúc, to như cột nhà, lõi đỏ chót như máu. Những cây sưa này đều đã lâu năm vì lõi rất dày, sát đến vỏ.

Các cựu chiến binh đã thông báo cho chính quyền, hôm sau, họ chở đống gỗ sưa này đi. Giờ đống gỗ sưa ấy nằm ở đâu, cũng chẳng ai biết, cũng chẳng bắt được tên trộm nào.

Các cựu chiến binh dẫn tôi xuyên qua khu rừng trúc, vòng lên sườn núi Cấm phía sông Đáy. Theo lời các cựu chiến binh, trước đây, sườn núi ven sông Đáy tập trung rất nhiều cây sưa, tuy nhiên, giờ đây, ở sườn núi này, chẳng còn bóng dáng cây sưa nào nữa. Các cựu chiến binh vạch lớp lá khô, chỉ cho tôi xem những gốc cây còn lại, chìm trong lòng đất, kẽ đá, vẫn còn màu gỗ đỏ thẫm.

Những cây sưa nằm ở vị trí này rất dễ bị trộm cắp. Bọn “sưa tặc” chỉ việc chèo thuyền áp sát chân núi, rồi tiến hành cưa trộm. Dù các cựu chiến binh nghe thấy tiếng động, chạy lên đến nơi, thì chúng đã biến mất cùng với một vài thân cây rồi.
Cụ Nguyễn Trí Viễn bên những gốc cây sưa trị giá tiền tỷ.

Ông Nguyễn Trí Viễn, hiện đã 75 tuổi, song vẫn leo núi phăm phăm, dẫn tôi vòng qua sườn Tây núi Cấm. Càng đi, rừng càng rậm rạp, núi càng hiểm trở. Những vách núi dựng đứng, đá nhọn lởm chởm như tai mèo. Quả thực, với địa hình như thế này, bọn lâm tặc khó mà “đánh nhanh thắng nhanh” được. Chắc vì thế mà sườn núi phía Tây vẫn còn chi chít, bạt ngàn gỗ sưa.

Tôi và ông Viễn đi miên man qua các vách đá, vạch những bụi rậm tìm loài cây bạc tỷ. Ông Viễn bảo, cứ cây nào thân nhẵn thín, có màu vàng nhạt, đích thị là cây sưa. Có những chỗ, gốc sưa cứ xin xít nhau, tán lá phủ trùm, chen chúc nhau trong một không gian chật hẹp.
Trên núi Cấm với đá tai mèo lởm chởm, chỉ có loài sưa là cây thân gỗ lớn nhất.

Tôi hỏi các cựu chiến binh quản lý rừng sưa rằng, núi Cấm có bao nhiêu cây sưa, các cựu chiến binh bảo: “Chịu thôi, không biết được, nó mọc rải rác khắp ngọn núi!”. Lúc đầu, tôi nghĩ các cựu chiến binh giấu thông tin, nên không nói số lượng cây sưa, chứ những cây sưa, cây nào cây nấy đều trị giá tiền tỷ, sao lại không biết. Tuy nhiên, có vào rừng sưa, mới thấy khó lòng đếm xuể.

Sau khi cuốc bộ một vòng quanh núi Cấm, tận mắt khu rừng sưa quý hiếm, tôi thấy số phận những gốc sưa thật mong manh. Nói là núi đá tai mèo lởm chởm, khó đi, chứ với lâm tặc thì những đại ngàn xa xôi hiểm trở nhiều ngày cuốc bộ, chúng còn xẻ gỗ vác ra được, nói gì đến cái núi Cấm bé tẹo mọc lên giữa cánh đồng chiêm trũng này. Bọn lâm tặc chưa sờ đến những gốc sưa bạc tỷ này là do chúng chưa có cơ hội mà thôi.
Liệu ngọn núi đá dựng đứng này có ngăn được lòng tham của lâm tặc?

Trao đổi với anh Đinh Văn Tuyến, Trưởng Công an xã Thi Sơn, về công tác bảo vệ rừng sưa quý hiếm trên núi Cấm, anh Tuyến bảo rằng, sau vụ lâm tặc đốn hạ mấy chục cây sưa phía sông Đáy, công an huyện đã chỉ đạo công an xã phối hợp với các cựu chiến binh quản lý chặt chẽ rừng sưa.

Anh em công an xã được tăng cường trực tiếp bảo vệ rừng sưa vào những thời kỳ cao điểm. Thời kỳ cao điểm là những lúc có cơn sốt gỗ sưa, hoặc khắp nơi rộ lên tình trạng trộm sưa. Còn những ngày bình thường, việc trông rừng sưa giao cho 5 cựu chiến binh già. Công an sẽ tham gia khi có tin báo từ các cựu chiến binh.

Ông Nguyễn Trung Thành cho hay: “Các cựu chiến binh vẫn phân công thay nhau mỗi ngày vài lần đi vòng quanh núi để trông nom rừng sưa. Tuy nhiên, nếu lâm tặc cố tình tìm cách đốn hạ, thì có trời mà biết”. Cũng theo ông Thành, gần đây, xuất hiện vài kẻ lạ mặt có biểu hiện nghi vấn, suốt ngày vật vờ theo chân các cựu chiến binh và lực lượng công an xã. Chỉ cần một chút lơ là của các cựu chiến binh, những gốc cây bạc tỷ sẽ bốc hơi lập tức.

Rừng sưa với những gốc cây bạc tỷ trên núi Cấm dường như vẫn đang bị phó mặc cho lâm tặc…

Theo 24h.com.vn

Chùa Cao Đà còn có tên là chùa Bà Hướng.Xưa kia thuộc thôn Đồng Đình - Cao Đà xã - Nam Xương huyện - Tỉnh Hà Nội. Nay thuộc thôn 8 Cao Đà - Xã Nhân Mỹ - Huyện Lý Nhân - Tỉnh Hà Nam.


Chùa có từ lâu đời, đến thế kỷ 13 có quan Hành Khiển Trương Hán Siêu về đây giúp dân phục hồi kinh tế, sửa sang chùa. Năm 1930 Hòa thượng pháp danh Thông Đoan ngài về trụ trì chùa, năm 1931 cùng nhân dân hảo tâm đóng góp xây cất ngôi chùa hoàn toàn mới.

Năm 1958 hòa thượng Thích Thiện Bản pháp danh Thông Đoan trưởng đoàn Hội phật giáo được chủ tịch Hồ Chí Minh tặng vải lụa và chụp ảnh chung (nay vẫn còn lưu giữ tại chùa). Hòa thượng Thích Tâm Tịch là một trong những đệ tử của tổ Thông Đoan. Một thời gian tu ở chùa bà Hướng sau được tấn phong đại lão Hòa Thượng Pháp Chủ Hội Phật Giáo Việt Nam. Sau khi viên tịch đã rước di ảnh về chùa nơi thờ tổ chùa Cao Đà.

Năm 1968 Sư cụ Thích Đàm Quý nay được tấn phong Ni trưởng về trụ trì chùa, cùng các vị sư sau kế tiếp. Theo gương các bậc tiền nhân, vượt mọi khó khăn giữ gìn tôn tạo ngôi chùa.


Video về đình chùa Cao Đà

Cái nắng chói chang của mùa hạ dường như phải dịu lại, phải nhún nhường trước màu xanh vẻ đẹp của sen... Chùm ảnh được phóng viên thực hiện tại xã Thanh Lưu, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.


Bên lúa, bên sen...

Bên tán đa cổ thụ đầu làng...

Đua sắc với các loài hoa khác trên đồng...


Thiếu nữ cùng sen khoe sắc...

Với sự đầu tư thích đáng của địa phương, hy vọng chùa Bà Đanh sẽ không còn vắng như tiếng đồn “vắng như chùa Bà Đanh”.

Vì sao chùa Bà Đanh vắng?

Chùa Bà Đanh còn có tên gọi khác là Bảo Sơn Tự thuộc làng Đanh Xá, xã Ngọc Sơn (Kim Bảng, Hà Nam) có diện tích gần 10 ha, được đánh giá là một trong những ngôi chùa đẹp và cổ kính nhất tỉnh Hà Nam bởi sơn thuỷ hữu tình nhưng vẫn bị mang cái tiếng “vắng như chùa Bà Đanh”.

Chùa Bà Đanh lúc vắng khách

      Theo những người cao tuổi trong thôn Đanh Xá, xưa kia khu vực này là một bãi đất bồi giữa ngã ba sông Đáy. Từ trên cao nhìn xuống nơi này có hình một con rồng đang quặn mình xả nước, chất đầy lau sậy, ban đêm nghe thấy cả tiếng hùm gầm.

     Chính vì cái thế đất ấy nên làng Đanh quanh năm lụt lội, dân nghèo khổ đói khát quanh năm. Nhiều người còn bỏ đi nơi khác tìm miền đất hứa với hy vọng đổi đời.

     Tương truyền trước kia vào thế kỷ thứ bảy, đây là một ngôi đền nhỏ thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Đến thời Lê Huy Tông (1675 - 1750), chùa được xây dựng đàng hoàng và to đẹp hơn.

     Một hôm, người già nhất trong thôn nói trong giấc mộng cụ thấy một người con gái trẻ đẹp hiện về truyền rằng dân làng muốn yên ổn làm ăn phải lập đền thờ.

     Đền vừa dựng xong được ít lâu, cây mít cổ thụ gần 1.000 tuổi bỗng dưng bị gió quật đổ. Dân làng Đanh lấy gỗ để tạc tượng và làm ngai để thờ người con gái đã về báo mộng cho dân làng.

     Chùa vừa thờ Phật vừa thờ Thánh và có tên là chùa Bà Đanh từ đó. Năm 1994, chùa Bà Đanh được Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá - Thể thao - du lịch) cấp bằng Di tích Lịch sử cấp quốc gia.

     Trả lời câu hỏi tại sao lại có câu nói “vắng như chùa Bà Đanh”, sư thầy Thích Đàm Đam giải thích: “Từ trước tới nay dân làng Đanh đều truyền tai nhau rằng ngôi chùa này rất linh thiêng, ai trái ý hoặc phỉ báng sẽ bị trừng trị... Vì thế khách thập phương không dám đến. Mặt khác chùa Bà Đanh ở một vị thế vắng vẻ không tiện đường giao thông, cũng như chưa có sự quan tâm, đầu tư đúng đắn của các cấp ban ngành địa phương”.

     Sư thầy Thích Đàm Đam cho biết thêm mấy năm nay, du khách và các nhà nghiên cứu có về đây đông hơn, nhưng dường như họ chỉ tìm câu hỏi “Tại sao chùa Bà Đanh lại vắng?”.

     Kết hợp du lịch và văn hoá tâm linh

    Với vị thế đẹp, không gian thanh tịnh, chùa Bà Đanh được chính quyền xác định phải trở thành điểm đến của khách thập phương. Việc đưa khu di tích này trở thành khu du lịch đang là vấn đề quan tâm của tỉnh Hà Nam.