vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:



Đừng chảy nữa sông ơi
Nhớ chăng mặt hồ,
nhớ chăng mặt hồ, phẳng lặng...
Phẳng lặng như chiếc gương soi
Phẳng lặng soi áng mây trôi
Mây trôi đồng lần...
Nợ nần giăng giăng...
Đừng chảy nữa sông ơi
Nhớ chăng chiều về
Nhớ chăng ngày về, vội vàng...
Vội vàng kìa gió qua khe
Vội vàng cả ánh trăng khuya
Góc đêm mạng nhện...
Nợ nần giăng giăng...
Giăng giăng ngày ngày
Giăng giăng tình tình giăng ... í a
Sông không về nguồn
Ta không về được những kỷ niệm ấu thơ
Cơn mê mệt nhoài
Li ti những hiện thực vừa vút qua
Sông không dừng lại
Như ta không thể nào neo bóng em yêu...
Đừng chảy nữa sông ơi ...một lần
Cho ta tìm lại...những nhọc nhằn...quá giang...

Có một địa danh mà người ta đă từng ca ngợi là “chốn bồng lai tiên cảnh” với phong cảnh thiên nhiên hữu tình, núi non trùng điệp, hang động độc đáo… Đó là khu thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa Đền Trúc – Ngũ Động Thi Sơn thuộc thôn Quyển Sơn, xă Thi Sơn, huyện Kim Bảng. 
Nơi đây không chỉ nổi tiếng về cảnh đẹp mà còn có lễ hội hát dặm giàu ý nghĩa, tôn vinh Anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt diễn ra từ ngày mùng 1 đến ngày 6/2 âm lịch hàng năm.


Cảm ơn Tân Nhàn đã cho tôi yêu quê hương mình nhiều hơn, hy vọng được có một ngày về thăm quê hương kim bảng, tôi yêu quê hương, tôi yêu tân nhàn.

Sao quê hương mình đẹp thế, lời bát hát là lời tự tình cho mỗi ai nặng lòng với quê hương...

Từ thị xã Phủ Lý theo quốc lộ 1A đi về phía Ninh Bình 2km, rẽ phải theo đường qua cầu Đọ về Châu Sơn 4km sẽ đến động.


Động Phúc Long nằm trong khu vực núi Chùa thôn Châu, thuộc núi Kiện Khê (còn gọi là núi Thiên Kiện). Núi Chùa là một trong số những ngọn núi nối đuôi nhau ở địa phận thôn Châu Sơn và thôn La Mát thuộc Kiện Khê. Núi Chùa là ngọn trung tâm, trên đó có chùa Hang, có khu miếu ở phía bắc chùa. Vua Trần Duệ Tông (1373-1377) đã cho lập đền thờ trên núi, đền thờ này bị nhà Nguyễn phá vào năm Tân Dậu (1801) và cho xây lại ở thôn Châu như vị trí hiện nay. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, tục truyền trên núi Thiên Kiện có cây tùng cổ có rồng quần ở trên, vua Trần Thái Tông đã lập hành cung và Trần Đế Nghiễn cho quân vận chuyển tiền đồng về cất giấu năm 1379 ở nơi đây. Thời Pháp thuộc, Viễn Đông bác cổ đã liệt hạng núi Chùa là cổ tích danh thắng (ngày 01 tháng 6 năm 1925).

Núi Chùa do các khối đá vỉa xếp chồng chất, lởm chởm như đầu con rồng. Có mỏm đứng chơ vơ trên đỉnh như sừng rồng, nhiều mỏm đá dựng ngược như tóc rồng, phía nam núi có một mái đá nhô ra, dưới mái đá có những vỉa bò lan, nổi cộm lại thành miệng con rồng mà ngôi chùa như hạt ngọc nằm gọn trong miệng con rồng, nhiều vỉa đá xếp thành các bậc thang rất thuận tiện cho việc lên núi ngắm cảnh. Trên đỉnh núi có nhiều cây cổ thụ kiểu dáng khác nhau, từ đây có thể bao quát cảnh sơn thủy hữu tình của sông Đáy, núi Bút Sơn, thành nhà Hồ, núi rừng Thanh Thủy và dòng sông Đáy.

Từ đất bằng leo lên chừng 2m tới cửa động, từ cửa động đi vào chừng 5m tới một ngã ba, rẽ bên phải đi xuống dần hàng chục mét là động có nhiều thạch nhũ đẹp, rẽ bên trái là đường lởm chởm nhũ đá nhô lên, rủ xuống tạo thành nhiều hình thù kỳ lạ. Động Phúc Long có dáng một con rồng thắt túi, có nhiều dơi bám trên vách nên nhân dân địa phương còn gọi đây là hang dơi. Động Phúc Long có sức chứa vài trăm người. Động hài hòa với cảnh quan núi Chùa, ngay bên cạnh là đình và chùa thôn Châu, tạo thành một di tích thắng cảnh hấp dẫn đối với du khách gần xa.

(Nguồn: hanam.gov.vn)

Những miếng thịt nướng vàng ruộm được tuốt ra từ xiên chả còn nóng hổi, trông như những bông hoa cải.

Những miếng thịt nướng vàng ruộm được tuốt ra từ xiên chả còn nóng hổi, trông như những bông hoa cải. Bánh cuốn trắng tinh, thơm mùi gạo, mềm, mỏng tang và dai, nhắp trong mỡ phi hành thơm, ăn với chả. Đó là bánh cuốn chả, hay có người gọi là bánh cuốn hoa cải - đặc sản của vùng đất chiêm trũng Hà Nam.

Bánh cuốn chả Phủ Lý, Hà Nam
Hà Nam là đất thuần nông nghiệp, đặc sản của vùng hầu hết là những vật phẩm từ lúa gạo, là những chắt chiu một nắng hai sương của người nông dân. Bánh cuốn là một trong số những sản phẩm như thế.

Nguyên liệu làm bánh cuốn là bột gạo tẻ. Gạo ngon khi làm bánh có độ dẻo, mịn, có thể cán thật mỏng trên tấm vải căng trên mép nồi lúc nào cũng nóng hơi. Người làm bánh cuốn đẹp, đạt yêu cầu cảm quan phải là người có tay nghề, thành thạo các thao tác từ láng bột đến gạt, lật, gỡ lớp bánh mỏng ra khỏi nồi sao cho không bị rách, không bị gấp lại và xếp lần lượt lên nhau, tạo thành một tệp. Khi ăn, người bán hàng sẽ lật từng lớp lá bánh một cách khéo léo, các đầu ngón tay thoăn thoắt, được lớp nào, nhấp vào hũ hành khô phi mỡ vàng, rồi cắt ra thành miếng vừa ăn. Những miếng bánh óng ả, thơm gạo, thơm hành mỡ đến là hấp dẫn.
Thúng bánh cuốn
Bánh cuốn ở Hà Nam không ăn với chả quế, chả lụa mà ăn với chả thịt nướng hình hoa cải. Nướng thịt sao cho vàng, các rìa ngoài của miếng thịt se lại như những cánh hoa cũng không dễ. Trước hết, phải lựa thịt ngon, thường là thịt nạc thăn thái mỏng, miếng vừa đủ ăn, đem ướp gia vị gồm nước mắm, tiêu, tỏi, đường, hành khô, rắc chút vừng nữa, nướng trên bếp than hoa đến khi vàng ruộm và dậy mùi thơm là được. Bánh cuốn ăn với chả nóng, nước chấm âm ấm ngọt thanh, dầm trong đó là đu đủ thái lát mỏng, ướp tỏi, đường cho chín mà vẫn giòn, thêm chút rau thơm nữa là đủ bộ.

Bánh cuốn Hà Nam có bán nhiều ở chợ Phủ Lý, trong những quán xá của  thành phố bên sông Đáy. Nơi đây đã trở nên rất quen thuộc với các thực khách từ nhiều nơi tìm về, nhất là ở khách ăn ở Hà Nội. Và, mỗi khi nhắc đến Hà Nam, là nhắc đến món ăn dân dã, mà vẫn rất hấp dẫn này - Bánh cuốn hoa cải - Bánh cuốn chả Hà Nam.


Theo Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam // Simplevietnam

Từ thị xã Phủ Lý qua cầu Hồng Phú, theo quốc lộ 21, đến cây số 11, rẽ trái 500m là tới hang. Trước cửa hang, có hai quả núi thấp đứng đối nhau tạo nên một cửa đá đồ sộ chắn ngang trước cửa hang.


Đây là một điểm dừng chân lý tưởng để ngắm toàn cảnh khu vực núi non và hang Luồn

Đây là khu vực được bao bọc xung quanh bởi các dãy núi cao, ở giữa thung lũng này nổi lên một dãy núi thấp, dãy núi này có hang Luồn. Miệng hang Luồn chính là mặt trước của dãy núi nhìn ra cửa đá. Trước mặt hang là một bãi đất rộng có một con kênh lớn chứa nhiều nước. Về mùa mưa, đây là một bến thuyền.

Mùa cạn có thể vừa đi thuyền, vừa đi bộ xuống cửa hang. Nguồn nước ở đây từ các khe núi cao đổ xuống, tỏa vào các kênh, các mạch ngầm rồi dẫn ra sông Đáy. Chính vì vậy, nước rất trong và sạch, có thể nhìn thấu đáy. Về mùa mưa, nước dâng lên sát trần hang nhưng cũng chỉ chốc lát là rút hết, chỉ giữ lại một lượng nước vừa đủ để vào hang.

Toàn cảnh khu Hang Luồn.

Miệng hang Luồn có hình vòm vách núi, chỗ nhô ra, chỗ lõm vào, chỗ thì chạy thẳng xuống lòng hang, vách thì uốn cong. Đặc biệt có vô số các nhũ đá hình thù muôn vẻ, cái từ trần hang rủ xuống, cái từ vách đá chồi ra kéo dài suốt chiều dài cửa hang.

Chiều dài hang Luồn khoảng 400m, chiều rộng của hang vừa đủ cho một đoàn khách đi thuyền ngắm các vách núi với các nhũ đá kỳ lạ và nghe tiếng nước rỏ tí tách. Trong ánh sáng mờ ảo du khách sẽ cảm thấy bập bềnh, rồi du thuyền sẽ đưa du khách tới một không gian mở ra choáng ngợp khi gặp ao Dong.

Ao Dong rộng khoảng 300 mẫu, nước trong vắt có thể nhìn thấy từng con cá bơi, thấy cả thảm thực vật, đặc biệt là các loài rong núi, ngay cả ở mực nước sâu tới 3m. Ao Dong được tạo nên bởi các dãy núi cao, với rừng cây bên sườn núi. Động vật ở đây khá đa dạng, cỏ trắng, sơn dương rất nhiều tạo thêm sự sinh động hấp dẫn cho cảnh quan. Các ngọn núi in bóng xuống làn nước trong vắt của ao Dong tạo nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình.



Hang Luồn, ao Dong với sự kết hợp hài hòa của núi non cây cỏ, trời xanh, nước biếc, quần thể động thực vật hoang dã phong phú là điểm du lịch sinh thái có giá trị của tỉnh Hà Nam.

Bánh đúc vốn là món ăn dân dã của con nhà nghèo. Tuổi thơ của nhà văn Nam Cao đầy ắp những kỷ niệm về món bánh bình dân "bột xay rất nhuyễn", vôi bỏ vừa, mịn, chắc đấy mà không nồng chút nào, bẻ ra ăn với cá bống kho ráo nước... dầm tí tương cua thì thật tuyệt" này.


Trong phiên chợ xưa, các thôn nữ yếm thắm xúm xít quanh mẹt của bà bán bánh đúc riêu mà ăn hăm hở. Người nọ nhìn bát của người kia rồi lại nhìn bát mình mà tự nhủ rất ngây thơ rằng: "Mình ăn hết chỗ này vẫn chưa no, người kia ăn sung sướng hơn mình...". Chàng thi sĩ trong tác phẩm của Nam Cao đã đứng tựa gốc dâu để ngắm cô thiếu nữ ăn bánh đúc "đôi môi tròn và đỏ tựa san hô sườn sượt, nước riêu chảy xuống cái cằm xinh xinh", mà nghĩ ra không biết bao nhiêu là thơ. Dần dà, bánh đúc từ các chợ thôn quê đã du nhập vào thành phố.

Cùng với bánh cuốn Thanh Trì, tiếng rao "Ai bánh đúc" đã trở nên quen thuộc trên mỗi nẻo đường Hà Nội. Các cô gái quê rảo chân khắp các phố phường Hà Nội, lúc lỉu đôi quang gánh với hai mẹt bánh đầy có ngọn. Bánh đúc được xắn thành từng miếng tròn bằng nắm tay, mầu trắng ngà điểm thêm mấy hạt lạc nâu hồng nom thật sướng mắt. Cái tên "bánh đúc" nghe thì thô nhưng hình thức lại tao nhã vô cùng. Nhà văn Vũ Bằng đã không tiếc lời ca ngợi miếng bánh đúc "mặn mịn và bóng như da người phụ nữ vừa tắm xong". So với các loại quà bánh khác, giá rẻ hơn tới chục lần. Bỏ ra dăm bảy nghìn là cả nhà được thưởng thức một bữa no nê bánh đúc. Nhưng xét về chất lượng thì không bằng bánh đúc quê ngày xưa. Người làm bánh muốn bánh được chắc được trắng nên cho hơi nhiều hàn the và vôi, gây nồng bánh và dễ đầy bụng nếu như ta có tham mà ăn nhiều hơn một chút.

Bánh đúc ăn lạ miệng, đắt khách, vốn chẳng là bao nên một vài người ở Hà Nội cũng xoay ra bán mặt hàng này. Bánh đúc ở phố Lê Ngọc Hân tương đối đặc biệt. Nồi bánh dẻo quánh đặt trên lò, các bọt phồng sủi rồi vỡ òa như miệng núi lửa, bốc mùi thơm dịu. Người bán bánh gõ nhẹ là cả khối bánh dẻo ráo rơi xuống bát, tuyệt không dính vào muôi chút nào, thêm một thìa nhân như nhân bánh cuốn rồi thả rau mùi và chan nước chấm chua ngọt. Người nào sành ăn thì cố đợi đến lúc bà chủ vét nồi, cậy lên một tảng cháy vàng rộm, vừa giòn vừa thơm. Quán thu hút khá đông nam thanh nữ tú vì ngon lại rẻ, chỉ 2.000 đồng là được một bát nóng sốt. Các cô tú cậu tú muốn chiêu đãi nhau chỉ cần bỏ ra một vài chục nghìn là cả nhóm tha hồ đánh chén. Bà chủ mở hàng từ 3 giờ nhưng đến khoảng 5, 6 giờ đã dọn nồi dọn niêu. Hết hàng, cậu con trai bà chủ nhanh nhẹn đứng đầu đường xua tay báo hiệu cho khách, miệng nhoẻn nụ cười như hối lỗi. Có mấy ông khách đi xe Simsơn than thở rằng từ Hà Đông lặn lội ra đây cả chục lần mà vẫn bị hụt ăn, thế mới biết cái sự thưởng thức món ăn giản dị này xem ra chẳng dễ.

Hương vị bánh đúc như làn gió đồng quê thổi man mát trong lòng thành phố. Đi xa, thỉnh thoảng nhớ về Hà Nội, nghĩ đến hương vị bánh đúc là lại muốn chảy nước miếng.


Theo Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam

Có lẽ bao nhiêu nước mưa mặn một đời mẹ tần tảo nuôi con trên trời đều đổ dồn xuống mái nhà nhỏ bé này. Mưa rào xối xả dưới mái hiên. Bên ngoài trời đất mù mịt, u ám. Cố căng mắt mà chẳng nhìn thấy gì. Giữa màn nước trắng đục như vừa chợt thấy bóng mẹ ngày xưa vẫn đứng đó...

Bát dưa cà pháo đậm vị quê hương
Tay mẹ xanh gầy cầm bát cơm hứng dưới giọt gianh. Nước mưa trong vắt và lạnh. Hạt cơm thì đỏ quạch. Mấy quả cà trắng cứ lập lờ nổi lên, chìm xuống như đời mẹ. Cả đời mẹ quanh quẩn chỉ có cơm cà chan nước mưa, nước vối. Bây giờ được no đủ thì mẹ đã khuất xa...

Quả cà nho nhỏ lăn theo gót chân

Vào cữ nắng hè ong ong, ủ lửa là lúc nắng già. Ngoài trời, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt hoa cả mắt. Người ta bảo đấy là " hoa nắng". Trời đứng gió, lá cây lặng ngắt. Nắng đổ lửa thế cà sai quả lắm. Quả cà nho nhỏ thu hết nắng vào trong. Quả nào quả nấy tròn vo, da căng bóng. Trong bấy nhiêu loại cà, mẹ chỉ kén cà xứ Thanh. Là vì quả vừa phải, trăm quả đều tăm tắp như những viên cuội. Cùi thì dầy mà ruột lại ít hạt.

Từ sáng sớm mẹ đã trở dậy, lập cập cắp thúng ra chợ. Tại đấy, người nhà quê ngược tàu mang về chẳng thiếu thứ gì. Nào khoai sọ, khoai lang, cà pháo, cà bát và cơ man là đỗ. Theo chân mẹ mỏi chân khắp chợ may ra mới mua được mẻ cà vừa ý. Đến xế chiều, nắng xiên khoai lọt qua dàn thiên lý, mát hẳn. Từng chùm hoa chín vàng, thoang thoảng mà lại thơm lâu. Mẹ nhẩn nha pha một ấm chè đặc, hai mẹ con cặm cụi cắt cà. Dao phải sắc như dao cau mới không "ăn" vào thịt cà. Như thế thì nén cà mới không bị ủng, không kháng. Vại muối cà phải là sành Hương Canh, đen nhánh, đanh lì. Qua mỗi mùa hè muối cả chục mẻ nên lớp vỏ sành đã thấm ngấm mấy lần nước muối mặn. Chẳng khác gì ấm pha trà ngấm dầy cao chè. Đá nén cũng phải kén đá cuội to, trơ lì và nhẵn thín. Nước muối mặn mấy cũng không thể ngấm vào. Các loại đá khác khi ngập chìm trong nước muối sẽ thôi ngấm ra, nước đục là cà có vị ngái. Ngay đến vỉ nén cũng phải đan bằng giang đã ngâm kỹ, gác trên gác bếp cho ngấm bồ hóng. Kỹ lưỡng đến thế rồi mẹ mới rải từng lớp cà. Cứ một lớp lại quải đều một lớp muối trắng. Nước đổ vừa xâm xấp mặt cà rồi thả dăm nhát giềng. Xong xuôi đặt vỉ, nén rõ chặt. Mẹ dặn, cứ vài ngày phải xem nước có ngót không. Cốt sao lúc nào cà cũng phải ngập nước. Đến khi vớt ra, để bao lâu cà vẫn trắng phau, không bị thâm tái...

Trong bếp có vại cà, cả nhà đủ sống qua ba tháng hè. Rau đay, rau ngót cũng một tay mẹ trồng trên mảnh vườn nhỏ sau nhà. Bên bờ rào, mồng tơi rậm rì xanh ngắt. Mùa hè nắng nôi, có bát canh rau với dăm quả cà là xong bữa. Lúc tối lửa tắt đèn, hàng xóm chạy sang xin dăm quả. Cả xóm thành ra nghiện cà mẹ muối. Ai cũng bảo muối cà tưởng là đơn giản. Hoá ra phải có " tay " thì cà nén mới giòn, trắng nõn và tuyệt nhiên không có vị chua...

Hũ mắm tép ấm lòng những ngày đông

Cuối hè, mấy trận mưa rào chưa thể xua hết cái oi nồng, bức bí. Tuy thế, khi gió chiều nổi lên đã thấy hơi lạnh phảng phất. Trên mặt hồ, mặt ao, tôm tép úi lên từng đám dầy đặc, sẫm cả mặt nước. Trời nhá nhem rồi tối dần. Mẹ bắc ghế ra đầu hè, bó gối ngồi. Một lúc sau thể nào cũng có ông lão đánh dậm đi ngang qua. Người chưa đến mà gió đã sực mùi tôm cá. Cái giỏ đựng tép nặng chịch, vít tấm lưng ông già gập xuống. Cái dậm thì to kềnh như chiếc diều cứ chực nhấc bổng thân người đẫm nước, tong teo. Mớ tép rui tươi nguyên trút ra rổ. Đầy những rong rêu, cọng cỏ. Mẹ khẽ đảo tay, hàng trăm con tép nhảy tanh tách. Nước bắn tứ phía, óng ánh như có vẩy bạc. Dưới đáy rổ thấy cả cọng vó, đòng đong, cân cấn, niềng niễng rúc đầu chạy ...

Ngọn đèn dầu thắp lên khoanh tròn một vầng sáng. Mẹ cặm cụi đãi nhặt ốc vặn, rơm rác. "Cái giống mắm tép phải làm rõ sạch và kỹ lắm. Chỉ hơi lẫn một tý là hỏng. Là ngả màu thâm xỉn, mất hẳn cái mầu đỏ hồng". Mẹ giảng giải như thế. Đãi đi đãi lại cho đến khi rổ tép trắng hồng, trong suốt, mẹ mới cho vào cối đá giã giậm. Có thế mắm mới nhuyễn, quánh dẻo. Xong đâu đấy, mẹ nhóm bếp rang thính. Ngọn lửa không được to quá, chỉ vừa lom dom. Nhất là phải đảo đều tay. Trăm hạt gạo như một, vàng rộm, nở đều như hoa cau chín. Thính giã vừa tới, không được vỡ vụn. Cứ thế, một lớp tép, lại quải một lớp thính. Khi cho mắm vào hũ, phải nút chặt bằng lá chuối khô. Lúc nào hũ mắm cũng để sát cạnh bếp.

Nhờ có lửa than, hơi nóng mắm ngấu chín. Suốt cả tháng trời cứ háo hức chờ lúc mẹ mở nút lá chuối. Ba gian nhà sực nức mùi vị ngọt ngào, thơm lạ thơm lùng. Chiều tối đi học về, chạy ù vào bếp. Cơm vừa chín tới để nguyên trên bếp. Mâm là cái mẹt chỉ có độc bát canh dưa vùi trong trấu. Tay mẹ xới lưng cơm nóng hôi hổi, rưới đều từng thìa mắm tươi hồng, đặc sánh. Hơi cơm bốc nghi ngút quyện với mùi mắm tép ngào ngạt. Mẹ nhìn con ăn, mắt rưng rưng. Ngoài trời gió lạnh đã về, hun hút lùa qua khe vách...

Của ngon vật lạ, mâm cao cỗ đầy rồi cũng chuội đi, có đọng lại gì. Sao vẫn nhớ cồn cào vị mắm tép, nhớ đến xót xa quả cà mẹ muối ngày nào. Ngót ba chục năm rồi có bao giờ tìm thấy nữa...



Theo Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam



Rau lang là một món dân dã, bình dị mà nhiều người vẫn nhớ về nó như một phần của tuổi thơ, một phần của làng quê mình ngày xưa lam lũ.
Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này
Rau lang xào tỏi phải lúc mỡ còn đang nóng giòn mới ngon.

Khi còn bé, mỗi độ tháng Chạp là bà và mẹ tôi bắt đầu trồng khoai lang trên ruộng nhà. Những ngọn khoai lang xanh non mập mạp vươn mình sau quãng thời gian giá rét cùng mưa phùn lây rây. Những ngày này, chỉ cần có món rau lang xào tỏi vừa mới bắc khỏi bếp ăn với cơm là đã có thể thành một bữa ăn ngon miệng.

Những ngọn rau lang đầu mùa thường căng mây mẩy tía, bóng mướt và mới lơ thơ vài lá non. Nếu mua rau từ chợ về, khi nhặt rau, bạn nên bỏ bớt lá to già, chỉ để lại ngọn và phần lá non, nếu không sẽ bị dai.

Người ta thường ngâm rau lang trong nước gạo để rau sạch và ngọt hơn. Cho rau vào chần qua nước sôi già rồi vớt ra. Để rau không bị nhũn thì sau đó ngâm ngay rau vào nước lạnh trong ít phút. Cùng với đó, chọn loại tỏi ta vị cay và thơm, băm đều.

Rau lang xào tỏi phải lúc mỡ còn đang nóng giòn mới ngon. Tôi nhớ những bữa bà tôi hoặc mẹ tôi làm món này, khắp căn bếp thơm lừng mùi tỏi phi, và vang tiếng rau lang chín xèo xèo trên mỡ nóng.

Hồi sinh viên, chúng tôi có một đợt thực tập dài ngày sang Thái Lan. Sau một tuần hàng ngày phải ăn đồ Thái cay và ngọt, cô bạn của tôi ỉu xìu ước ao: “Tao nhớ nhà, tao nhớ món rau lang xào! Khi về tao nhất định sẽ ra chợ mua mấy mớ liền về ăn cho đã…”. Tôi phì cười, tự hỏi không hiểu vì sao nó lại nhớ đến món rau lang xào chứ không phải là món ăn nào khác.

Ngày cuối cùng trước khi về Việt Nam, chúng tôi được một anh bạn người Thái “chiêu đãi”. Cả bọn nhất loạt đồng ý chọn một quán ăn Việt ở gần nơi thực tập. Cô bạn tôi (và cả nhóm chúng tôi nữa) đều hân hoan khi biết cửa hàng này có món rau lang xào.

Thưởng thức rau lang xào – món ăn bình dị, dân dã của Việt Nam ở Bangkok, lòng đứa nào cũng rưng rưng.


Các món ăn chế từ thịt dê vốn được coi là món đặc sản của vùng Phủ lý, Thanh Liêm, Kim Bảng.
Dê được chăn thả tự nhiên trên núi đá vùng Kim Bảng, Thanh Liêm vốn là loài ăn tạp các loại lá cây lại chạy nhảy trên núi cao quanh năm nên thịt dê núi có vị ngon đặc biệt. Từ dê người ta có thể chế biến ra rất nhiều món ăn khác nhau. Đầu tiên phải kể đến món tiết canh dê. Đây là một món ăn không chỉ ngon mà còn bổ dưỡng có tác dụng nhiều mặt. Thịt dê có thể chế ra các món khác như món thịt dê nướng, tái lăn...

tonghop


Bánh đa khô tráng vừng, quạt phổng địa phương nào chả có. Nhưng mỗi nơi có một bí quyết xay bột, tráng bánh và quạt lửa khác nhau dẫn đến chất lượng bánh đa khác nhau. Bánh đa xứ Kiện Khê - H. Thanh Liêm là một trong số bánh đa có tiếng trong vùng. Ăn bánh đa Kiện ta có được cảm giác giòn của bánh đa, vị thơm của vừng và có cả vị bùi, ngọt tự nhiên của bột gạo...Thật khó tả hết hương vị của bánh đa khô tráng vừng xứ Kiện. Để tăng thêm hương vị của bánh đa, người ta có thể ăn kết hợp bánh đa với chuối tiêu chín hoặc cùi dừa.

theo hanam247.com


Làng Đại Hoàng thuộc xã Nhân Hậu cũ nay là xã Hoà Hậu - huyện Lý Nhân vốn có nghề dệt vải lâu đời. Ngoài đặc sản hồng không hạt, chuối ngự và một vài món ăn dân tộc khác, còn có món cá kho được xếp vào diện món ăn đặc sản tiêu biểu của địa phương.
Cá kho ở đâu mà chả có! Đúng vậy nhưng cá kho Nhân Hậu có hương vị khác, hễ ai ăn một lần rồi thì nhớ mãi. Không rõ người dân Nhân Hậu có bí quyết chế biến, kho cá như thế nào, chỉ biết rằng vào dịp Tết, giỗ nhà nào cũng phải có một nồi cá kho vừa là một trong các món dùng cúng gia tiên, vừa làm thức ăn và dùng để tiếp khách trong bữa cơm của gia đình. Bánh chưng tết ăn với cá kho Nhân Hậu không còn gì ngon hơn. Cá kho có màu vàng xẫm, khi dùng đũa xắn thành miếng nhỏ ta cảm thấy như cá rắn chắc nhưng khi ăn miếng cá lại bở tơi trong miệng. Cá được kho khô cùng với một số gia vị như gừng, giềng, tương đậu...nên có mùi đặc trưng khó quên. Cá dùng để kho thường là cá trắm đen, cá trôi hay cá chép. Tuy nhiên các loại cá khác người dân Nhân Hậu đem kho đều có hương vị của cá kho Nhân Hậu.


Người dân Hà Nam nói chung và người dân Lý Nhân nói riêng có một nghề được truyền từ lâu đời lại là chế biến long nhãn. Vào mùa nhãn người dân Lý Nhân toả đi khắp nơi trên cả nước tìm mua nhãn và tổ chức chế biến ngay tại chỗ. Không những vậy có người còn bỏ vốn đầu tư hàng chục hec ta nhãn tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long để vừa làm trang trại và chế biến long nhãn.
Long nhãn là một vị thuốc quý được người Trung Quốc sử dụng từ lâu, chính vì vậy thị trường xuất khẩu long nhãn chủ yếu vẫn là thị trường Trung Quốc. Trước đây dân ta chưa biết đến long nhãn vì long nhãn còn quý hiếm. Ngày nay, do phát triển cây ăn quả trong đó có nhãn, việc chế biến long nhãn trở thành phổ biến nên trong các thang thuốc bổ dùng cho người mới ốm dậy đã thấy có vị long nhãn.

Để chế biến long nhãn, người ta phải đắp lò để sấy hoặc phơi khô quả rồi mới bóc vỏ bỏ hạt. Tuy nhiên không đơn giản chỉ có vậy bởi vì khi nhãn chín hàm lượng nước trong quả lớn, nếu không có kỹ thuật sấy, quả nhãn có thể vỡ, dập mất nước, ảnh hưởng tới chất lượng long.
Long nhãn chất lượng tốt là loại có cùi dày, vị ngọt, màu cánh gián, hương thơm đặc trưng, không lẫn tạp chất...

theo hanam247.com


Lý Nhân là một huyện nằm ven sông Hồng có đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt một số cây ăn quả như nhãn, chuối, cam chanh, hồng, quýt...
Quýt Lý Nhân đã từng nổi tiếng khắp nơi không những trong nước mà còn được xuất khẩu ra thị trường thế giới. Vào những năm 1960 - 1970 của thế kỷ XX, quýt Lý Nhân đã được xuất khẩu sang Liên Xô và một số nước Đông Âu cũ. Quýt có nhiều loại nhưng thơm, ngon, chất lượng hơn cả là Quýt Hương. Quýt Hương có mùi thơm riêng biệt. Xưa kia quýt Hương đã từng dùng làm đặc sản tiến vua.

Khác với giống quýt của địa phương khác, quýt Lý Nhân quả dẹt, vỏ giòn, mỏng vừa phải, khi chín màu vàng ươm. Cũng giống như cam, bề mặt của vỏ quýt có những hạt tinh dầu nhỏ li ti khi bóc tỏa ra mùi thơm đặc trưng của quýt. Hàng năm cứ vào mùa Rươi (tháng 9 - 10 Âm lịch) cũng là mùa quýt chín, người ta dùng vỏ quýt để làm tăng hương vị của món chả Rươi. Ngoài ra vỏ quýt còn dùng làm vị thuốc.
Hiện nay, quýt Lý Nhân đang được ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nam phối hợp với một số Viện khoa học lập dự án bảo tồn và phát triển giống quýt quý hiếm này.