vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:

Có một địa danh mà người ta đă từng ca ngợi là “chốn bồng lai tiên cảnh” với phong cảnh thiên nhiên hữu tình, núi non trùng điệp, hang động độc đáo… Đó là khu thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa Đền Trúc – Ngũ Động Thi Sơn thuộc thôn Quyển Sơn, xă Thi Sơn, huyện Kim Bảng. 
Nơi đây không chỉ nổi tiếng về cảnh đẹp mà còn có lễ hội hát dặm giàu ý nghĩa, tôn vinh Anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt diễn ra từ ngày mùng 1 đến ngày 6/2 âm lịch hàng năm.


 Về thăm nghệ nhân Hà Thị Cầu chúng tôi mơi cảm nhận được cuộc sống thường nhật của người nghệ nhân hát xẩm nỗi tiếng này.
Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu (tên thật là Hà Thị Năm) Sinh ra ở Ý Yên- Nam Định. Tưởng chừng như cuộc sống của người nghệ nhân độc nhất vô nhị đã bước sang tuổi 93 ấy giờ chỉ còn là những phút thư nhàn, thanh thản sau những giông gió của cuộc đời phiêu bạt. Thế nhưng, phải về tận ngôi nhà để thăm và để thấy cuộc sống thường nhật của nghệ nhân Hà Thị Cầu, chúng tôi mới cảm hết được một nỗi thê lương của cả cuộc đời bà...
“Mẹ là người hát xẩm giời đày...”

Lần theo những dòng ký ức vốn đã chập chờn như ngọn đèn dầu leo lắt trong tâm trí của người đàn bà phiêu bạt, cụ Hà Thị Cầu nhớ lại: "Kiếp hát xẩm ám vào đời tôi bắt đầu từ bà nội vốn nức tiếng về ca xẩm vùng Ý Yên hồi đầu thế kỉ XX. Ngày ấy, xẩm rất thịnh hành và có mặt trong hầu hết các sinh hoạt cộng đồng từ chốn đình chùa đến nơi kẻ chợ. Vì vậy, dẫu đói kém nhưng những người theo nghề xẩm cũng có được cái ăn".
Người đàn bà ca xẩm đất Ý Yên thời ấy sinh được duy nhất một người con gái lòa mắt, sau này cũng vào nghề hát xướng và lấy một người đàn ông mù đàn ca sáo nhị. Cả nhà ba người, hai mù, một sáng mắt lập ra gánh hát đi khắp đầu phố cuối sông. Phiêu dạt khắp các hang cùng ngõ hẻm, ga tàu xó chợ vậy mà đôi vợ chồng mù cũng sinh được bảy người con nhưng đứa còn đứa mất.
Từ nhỏ, Hà Thị Năm đã dạn dày mưa gió, cơm đường cháo chợ lưu lạc đó đây từ chưa đầy tuần. Thế rồi, những làn điệu xẩm như Huê tình, Hà liễu, Ba bậc, Thập ân, Cò lả, Thập sầu, Hành vân, Ca nam... nhập vào cô. Nó tự nhiên như những lời nói cất lên hàng ngày chú ơi, ông ơi, nó sung sướng, chất đầy cảm xúc như lúc người ta bỏ vào tay Năm những đồng cắc, đồng xu hãy còn nóng hổi.
Mười tuổi, khi đã biết đủ ngón nghề của một ca xẩm (tự hát, tự phách và kéo nhị) là lúc đôi lưng của người bà rạp xuống gốc cây gạo, nặng nề chút hơi thở cuối cùng nơi phố chợ hiu hắt. Tiếp sau là người cha mù lòa cũng không còn cất nổi tiếng và bỏ lại cuộc đời đàn ca nhị phách cho người vợ cùng con nhỏ. Hà Thị Năm lại dắt díu người mẹ mù lòa cất tiếng xẩm thân phận trôi dạt sang Yên Mô - Ninh Bình.
Mang tiếng "xướng ca vô loài" giữa cuộc đời xuôi ngược, dẫu nhan sắc cũng chẳng kém cạnh ai, giọng hát làm chạnh lòng biết bao tài tử, cô thiếu nữ đang độ xuân thì Hà Thị Năm chấp nhận về sống đời vợ chồng với ông trùm xẩm mù Nguyễn Văn Mậu nhiều hơn tuổi cha mẹ cô, và đã qua 17 đời vợ.
Ông trùm xẩm Nguyễn Văn Mậu, người có 6 gánh hát ở đất Yên Mô, nhưng gia tài cũng chỉ có cơm niêu nước thùng, với một mái xiêu bốn bên gió lùa, chừng 20m2 nằm ở xã Yên Phong - Yên Mô. Qua 17 đời vợ nhưng ông Mậu vẫn không có lấy một mụn con, nhưng khi nên duyên với Hà Thị Năm đã liên tiếp sinh 7 đứa con.
Nhớ lại những nhọc nhằn của quãng thời gian năm nào đã trôi xa vào ký ức, cụ Cầu vẫn rùng mình như thể nỗi kinh hoàng mới trải qua. Vừa sinh Mận (con gái đầu lòng) được ba ngày cô Năm đã phải trao con cho bà cả để ra chợ ngồi hát. Người sản phụ mới sinh con ba ngày tuổi vừa hát vừa thắt ruột, thắt gan, nhoi nhói như kim châm nơi vùng ổ bụng chưa lành cuống nhau. Thế mà vẫn phải hát để nuôi con, có lúc tưởng kiệt sức, không cất được nổi giọng đành phải uống rượu để cầm hơi, lấy sức.
Bảy lần sinh nhưng chỉ nuôi được ba, 71 tuổi ông Mậu qua đời, cô Năm còn bụng mang dạ chửa người con út. Câu chuyện về người con út là một câu chuyện dài và ly kì mà cho đến tận bây giờ nhiều lúc cụ Hà Thị Cầu vẫn không dám tin đó là sự thật. Ngay sau khi sinh cậu út, do không có gì nuôi, cụ đành phải đứt ruột cho đi cậu con trai tên Cầu. Đó chính là nguyên do mà ngay sau này ca nương lừng danh một thời đã đổi tên thành Hà Thị Cầu, mong rằng có ngày đứa con lưu lạc nhà người sẽ tìm về bên mẹ. Khi cho đi đứa con, cô chỉ kịp nói với người nhận nuôi và với Cầu một câu: "Mẹ là người hát xẩm giời đày tên Năm", rồi im lặng cúi xuống để người ta bế Cầu đi. Những nỗi đau mất mát, những ấm ức của một đời cầm ca đã khiến giọng ca của bà chơi vơi nhẫn nhục tủi hờn khôn xiết mà rắn rỏi, cương cường. Nó như để chống lại sự nghiệt ngã và bạc bẽo kiếp giời đày. Chính tiếng hát ấy sau này đã giúp bà tìm được anh Cầu và nó cũng đã đưa bà lên thành một người hát xẩm có một không hai của Việt Nam còn lại.
Câu ca nghẹn ngào

Bộ đồ nghề hát xẩm của nghệ nhân
Do ở xa, trước khi đến thăm bà Cầu tôi đã gọi điện trước cho một người làm công tác quản lý văn hóa, nghệ thuật ở Ninh Bình, anh bảo: "Nhà bà Cầu ở ngay thị trấn Ngò - Yên Mô, nhà sát đường nên đến đó, hỏi ai họ cũng chỉ cho thôi". Tìm đến nơi tôi mới biết nhà bà Cầu không ở thị trấn, nó nằm cách thị trấn Ngò - Yên Mô chừng 3km, ngôi nhà nhỏ nhuốm đầy bụi đường của nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu do đoạn đường đang được thi công mở rộng và ở ngay sát Ủy ban Nhân dân xã. Trong ngôi nhà nhỏ những giấy khen, bằng khen, giải thưởng được treo la liệt ở bốn bức tường. Đó là, bằng khen năm 1998 của Đài Tiếng nói Việt Nam; danh hiệu Nghệ nhân dân gian; danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú; giải thưởng Đào Tấn... đã mang dấu ấn hoàng kim một đời hát xẩm của cụ.
Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà quạnh quẽ khi chị Mận, người con gái đang sống cùng cụ không có nhà, cụ Cầu mặc chiếc áo khoác cộc tay, chất liệu nhung màu bã trầu đã cũ, bên trong là áo xanh màu nõn chuối với hai đầu gối tay tươm tả, để lộ ra ngoài nếp da nhăn nhúm. Có lẽ cũng đã hơn chục năm nay bà không còn lang thang hát xẩm. Từ ngày đó, cây nhị gắn bó với cụ suốt một đời lang bạt cụ cũng đã cho người ta mượn để mưu sinh. Nhớ cây nhị, cụ ngồi một lát rồi bật cười, cái cười móm mém buồn vô hạn: "Sức tôi giờ chẳng còn, không hát được nữa. Cây nhị nó buồn lắm. Có những đêm, giữa khuya tôi bỗng nghe thấy tiếng cây nhị khóc dấm dứt trên tường. Tôi tỉnh dậy hỏi thì nhị bảo nó nhớ thủa xa xưa nhiều lắm. Giờ đây, nằm nhàn nhã trên tường mà nó tưởng thân nhị như đã chết rồi. Thương cây nhị quá nên khi có người hỏi mượn đi theo gánh xẩm, tôi cũng dứt ruột mà đưa cho người ta".
Bóng chiều đâu đó đã đổ sập xuống phía sau ngôi nhà loang nổ đầy vết rêu phong của thời gian. Và cụ Hà Thị Cầu vẫn ngồi đó, phía trước hiên nhà lặng yên như đang lắng nghe một thanh âm nào đó vút lên trong sâu thẳm miền ký ức. Có lẽ vì vậy mà cụ không nghe thấy cả câu chào của chúng tôi chăng? Một nỗi buồn tê tái len lỏi trong lòng những người lữ khách khi cố níu kéo người đời để họ chợt nhận ra rằng ở mảnh đất này vẫn còn một di sản sống của làng hát xẩm.

Theo Nguoiduatin.vn

Sao quê hương mình đẹp thế, lời bát hát là lời tự tình cho mỗi ai nặng lòng với quê hương...

Từ thị xã Phủ Lý theo quốc lộ 1A đi về phía Ninh Bình 2km, rẽ phải theo đường qua cầu Đọ về Châu Sơn 4km sẽ đến động.


Động Phúc Long nằm trong khu vực núi Chùa thôn Châu, thuộc núi Kiện Khê (còn gọi là núi Thiên Kiện). Núi Chùa là một trong số những ngọn núi nối đuôi nhau ở địa phận thôn Châu Sơn và thôn La Mát thuộc Kiện Khê. Núi Chùa là ngọn trung tâm, trên đó có chùa Hang, có khu miếu ở phía bắc chùa. Vua Trần Duệ Tông (1373-1377) đã cho lập đền thờ trên núi, đền thờ này bị nhà Nguyễn phá vào năm Tân Dậu (1801) và cho xây lại ở thôn Châu như vị trí hiện nay. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, tục truyền trên núi Thiên Kiện có cây tùng cổ có rồng quần ở trên, vua Trần Thái Tông đã lập hành cung và Trần Đế Nghiễn cho quân vận chuyển tiền đồng về cất giấu năm 1379 ở nơi đây. Thời Pháp thuộc, Viễn Đông bác cổ đã liệt hạng núi Chùa là cổ tích danh thắng (ngày 01 tháng 6 năm 1925).

Núi Chùa do các khối đá vỉa xếp chồng chất, lởm chởm như đầu con rồng. Có mỏm đứng chơ vơ trên đỉnh như sừng rồng, nhiều mỏm đá dựng ngược như tóc rồng, phía nam núi có một mái đá nhô ra, dưới mái đá có những vỉa bò lan, nổi cộm lại thành miệng con rồng mà ngôi chùa như hạt ngọc nằm gọn trong miệng con rồng, nhiều vỉa đá xếp thành các bậc thang rất thuận tiện cho việc lên núi ngắm cảnh. Trên đỉnh núi có nhiều cây cổ thụ kiểu dáng khác nhau, từ đây có thể bao quát cảnh sơn thủy hữu tình của sông Đáy, núi Bút Sơn, thành nhà Hồ, núi rừng Thanh Thủy và dòng sông Đáy.

Từ đất bằng leo lên chừng 2m tới cửa động, từ cửa động đi vào chừng 5m tới một ngã ba, rẽ bên phải đi xuống dần hàng chục mét là động có nhiều thạch nhũ đẹp, rẽ bên trái là đường lởm chởm nhũ đá nhô lên, rủ xuống tạo thành nhiều hình thù kỳ lạ. Động Phúc Long có dáng một con rồng thắt túi, có nhiều dơi bám trên vách nên nhân dân địa phương còn gọi đây là hang dơi. Động Phúc Long có sức chứa vài trăm người. Động hài hòa với cảnh quan núi Chùa, ngay bên cạnh là đình và chùa thôn Châu, tạo thành một di tích thắng cảnh hấp dẫn đối với du khách gần xa.

(Nguồn: hanam.gov.vn)

Những miếng thịt nướng vàng ruộm được tuốt ra từ xiên chả còn nóng hổi, trông như những bông hoa cải.

Những miếng thịt nướng vàng ruộm được tuốt ra từ xiên chả còn nóng hổi, trông như những bông hoa cải. Bánh cuốn trắng tinh, thơm mùi gạo, mềm, mỏng tang và dai, nhắp trong mỡ phi hành thơm, ăn với chả. Đó là bánh cuốn chả, hay có người gọi là bánh cuốn hoa cải - đặc sản của vùng đất chiêm trũng Hà Nam.

Bánh cuốn chả Phủ Lý, Hà Nam
Hà Nam là đất thuần nông nghiệp, đặc sản của vùng hầu hết là những vật phẩm từ lúa gạo, là những chắt chiu một nắng hai sương của người nông dân. Bánh cuốn là một trong số những sản phẩm như thế.

Nguyên liệu làm bánh cuốn là bột gạo tẻ. Gạo ngon khi làm bánh có độ dẻo, mịn, có thể cán thật mỏng trên tấm vải căng trên mép nồi lúc nào cũng nóng hơi. Người làm bánh cuốn đẹp, đạt yêu cầu cảm quan phải là người có tay nghề, thành thạo các thao tác từ láng bột đến gạt, lật, gỡ lớp bánh mỏng ra khỏi nồi sao cho không bị rách, không bị gấp lại và xếp lần lượt lên nhau, tạo thành một tệp. Khi ăn, người bán hàng sẽ lật từng lớp lá bánh một cách khéo léo, các đầu ngón tay thoăn thoắt, được lớp nào, nhấp vào hũ hành khô phi mỡ vàng, rồi cắt ra thành miếng vừa ăn. Những miếng bánh óng ả, thơm gạo, thơm hành mỡ đến là hấp dẫn.
Thúng bánh cuốn
Bánh cuốn ở Hà Nam không ăn với chả quế, chả lụa mà ăn với chả thịt nướng hình hoa cải. Nướng thịt sao cho vàng, các rìa ngoài của miếng thịt se lại như những cánh hoa cũng không dễ. Trước hết, phải lựa thịt ngon, thường là thịt nạc thăn thái mỏng, miếng vừa đủ ăn, đem ướp gia vị gồm nước mắm, tiêu, tỏi, đường, hành khô, rắc chút vừng nữa, nướng trên bếp than hoa đến khi vàng ruộm và dậy mùi thơm là được. Bánh cuốn ăn với chả nóng, nước chấm âm ấm ngọt thanh, dầm trong đó là đu đủ thái lát mỏng, ướp tỏi, đường cho chín mà vẫn giòn, thêm chút rau thơm nữa là đủ bộ.

Bánh cuốn Hà Nam có bán nhiều ở chợ Phủ Lý, trong những quán xá của  thành phố bên sông Đáy. Nơi đây đã trở nên rất quen thuộc với các thực khách từ nhiều nơi tìm về, nhất là ở khách ăn ở Hà Nội. Và, mỗi khi nhắc đến Hà Nam, là nhắc đến món ăn dân dã, mà vẫn rất hấp dẫn này - Bánh cuốn hoa cải - Bánh cuốn chả Hà Nam.


Theo Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam // Simplevietnam

Từ thị xã Phủ Lý qua cầu Hồng Phú, theo quốc lộ 21, đến cây số 11, rẽ trái 500m là tới hang. Trước cửa hang, có hai quả núi thấp đứng đối nhau tạo nên một cửa đá đồ sộ chắn ngang trước cửa hang.


Đây là một điểm dừng chân lý tưởng để ngắm toàn cảnh khu vực núi non và hang Luồn

Đây là khu vực được bao bọc xung quanh bởi các dãy núi cao, ở giữa thung lũng này nổi lên một dãy núi thấp, dãy núi này có hang Luồn. Miệng hang Luồn chính là mặt trước của dãy núi nhìn ra cửa đá. Trước mặt hang là một bãi đất rộng có một con kênh lớn chứa nhiều nước. Về mùa mưa, đây là một bến thuyền.

Mùa cạn có thể vừa đi thuyền, vừa đi bộ xuống cửa hang. Nguồn nước ở đây từ các khe núi cao đổ xuống, tỏa vào các kênh, các mạch ngầm rồi dẫn ra sông Đáy. Chính vì vậy, nước rất trong và sạch, có thể nhìn thấu đáy. Về mùa mưa, nước dâng lên sát trần hang nhưng cũng chỉ chốc lát là rút hết, chỉ giữ lại một lượng nước vừa đủ để vào hang.

Toàn cảnh khu Hang Luồn.

Miệng hang Luồn có hình vòm vách núi, chỗ nhô ra, chỗ lõm vào, chỗ thì chạy thẳng xuống lòng hang, vách thì uốn cong. Đặc biệt có vô số các nhũ đá hình thù muôn vẻ, cái từ trần hang rủ xuống, cái từ vách đá chồi ra kéo dài suốt chiều dài cửa hang.

Chiều dài hang Luồn khoảng 400m, chiều rộng của hang vừa đủ cho một đoàn khách đi thuyền ngắm các vách núi với các nhũ đá kỳ lạ và nghe tiếng nước rỏ tí tách. Trong ánh sáng mờ ảo du khách sẽ cảm thấy bập bềnh, rồi du thuyền sẽ đưa du khách tới một không gian mở ra choáng ngợp khi gặp ao Dong.

Ao Dong rộng khoảng 300 mẫu, nước trong vắt có thể nhìn thấy từng con cá bơi, thấy cả thảm thực vật, đặc biệt là các loài rong núi, ngay cả ở mực nước sâu tới 3m. Ao Dong được tạo nên bởi các dãy núi cao, với rừng cây bên sườn núi. Động vật ở đây khá đa dạng, cỏ trắng, sơn dương rất nhiều tạo thêm sự sinh động hấp dẫn cho cảnh quan. Các ngọn núi in bóng xuống làn nước trong vắt của ao Dong tạo nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình.



Hang Luồn, ao Dong với sự kết hợp hài hòa của núi non cây cỏ, trời xanh, nước biếc, quần thể động thực vật hoang dã phong phú là điểm du lịch sinh thái có giá trị của tỉnh Hà Nam.

Bánh đúc vốn là món ăn dân dã của con nhà nghèo. Tuổi thơ của nhà văn Nam Cao đầy ắp những kỷ niệm về món bánh bình dân "bột xay rất nhuyễn", vôi bỏ vừa, mịn, chắc đấy mà không nồng chút nào, bẻ ra ăn với cá bống kho ráo nước... dầm tí tương cua thì thật tuyệt" này.


Trong phiên chợ xưa, các thôn nữ yếm thắm xúm xít quanh mẹt của bà bán bánh đúc riêu mà ăn hăm hở. Người nọ nhìn bát của người kia rồi lại nhìn bát mình mà tự nhủ rất ngây thơ rằng: "Mình ăn hết chỗ này vẫn chưa no, người kia ăn sung sướng hơn mình...". Chàng thi sĩ trong tác phẩm của Nam Cao đã đứng tựa gốc dâu để ngắm cô thiếu nữ ăn bánh đúc "đôi môi tròn và đỏ tựa san hô sườn sượt, nước riêu chảy xuống cái cằm xinh xinh", mà nghĩ ra không biết bao nhiêu là thơ. Dần dà, bánh đúc từ các chợ thôn quê đã du nhập vào thành phố.

Cùng với bánh cuốn Thanh Trì, tiếng rao "Ai bánh đúc" đã trở nên quen thuộc trên mỗi nẻo đường Hà Nội. Các cô gái quê rảo chân khắp các phố phường Hà Nội, lúc lỉu đôi quang gánh với hai mẹt bánh đầy có ngọn. Bánh đúc được xắn thành từng miếng tròn bằng nắm tay, mầu trắng ngà điểm thêm mấy hạt lạc nâu hồng nom thật sướng mắt. Cái tên "bánh đúc" nghe thì thô nhưng hình thức lại tao nhã vô cùng. Nhà văn Vũ Bằng đã không tiếc lời ca ngợi miếng bánh đúc "mặn mịn và bóng như da người phụ nữ vừa tắm xong". So với các loại quà bánh khác, giá rẻ hơn tới chục lần. Bỏ ra dăm bảy nghìn là cả nhà được thưởng thức một bữa no nê bánh đúc. Nhưng xét về chất lượng thì không bằng bánh đúc quê ngày xưa. Người làm bánh muốn bánh được chắc được trắng nên cho hơi nhiều hàn the và vôi, gây nồng bánh và dễ đầy bụng nếu như ta có tham mà ăn nhiều hơn một chút.

Bánh đúc ăn lạ miệng, đắt khách, vốn chẳng là bao nên một vài người ở Hà Nội cũng xoay ra bán mặt hàng này. Bánh đúc ở phố Lê Ngọc Hân tương đối đặc biệt. Nồi bánh dẻo quánh đặt trên lò, các bọt phồng sủi rồi vỡ òa như miệng núi lửa, bốc mùi thơm dịu. Người bán bánh gõ nhẹ là cả khối bánh dẻo ráo rơi xuống bát, tuyệt không dính vào muôi chút nào, thêm một thìa nhân như nhân bánh cuốn rồi thả rau mùi và chan nước chấm chua ngọt. Người nào sành ăn thì cố đợi đến lúc bà chủ vét nồi, cậy lên một tảng cháy vàng rộm, vừa giòn vừa thơm. Quán thu hút khá đông nam thanh nữ tú vì ngon lại rẻ, chỉ 2.000 đồng là được một bát nóng sốt. Các cô tú cậu tú muốn chiêu đãi nhau chỉ cần bỏ ra một vài chục nghìn là cả nhóm tha hồ đánh chén. Bà chủ mở hàng từ 3 giờ nhưng đến khoảng 5, 6 giờ đã dọn nồi dọn niêu. Hết hàng, cậu con trai bà chủ nhanh nhẹn đứng đầu đường xua tay báo hiệu cho khách, miệng nhoẻn nụ cười như hối lỗi. Có mấy ông khách đi xe Simsơn than thở rằng từ Hà Đông lặn lội ra đây cả chục lần mà vẫn bị hụt ăn, thế mới biết cái sự thưởng thức món ăn giản dị này xem ra chẳng dễ.

Hương vị bánh đúc như làn gió đồng quê thổi man mát trong lòng thành phố. Đi xa, thỉnh thoảng nhớ về Hà Nội, nghĩ đến hương vị bánh đúc là lại muốn chảy nước miếng.


Theo Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam

Có lẽ bao nhiêu nước mưa mặn một đời mẹ tần tảo nuôi con trên trời đều đổ dồn xuống mái nhà nhỏ bé này. Mưa rào xối xả dưới mái hiên. Bên ngoài trời đất mù mịt, u ám. Cố căng mắt mà chẳng nhìn thấy gì. Giữa màn nước trắng đục như vừa chợt thấy bóng mẹ ngày xưa vẫn đứng đó...

Bát dưa cà pháo đậm vị quê hương
Tay mẹ xanh gầy cầm bát cơm hứng dưới giọt gianh. Nước mưa trong vắt và lạnh. Hạt cơm thì đỏ quạch. Mấy quả cà trắng cứ lập lờ nổi lên, chìm xuống như đời mẹ. Cả đời mẹ quanh quẩn chỉ có cơm cà chan nước mưa, nước vối. Bây giờ được no đủ thì mẹ đã khuất xa...

Quả cà nho nhỏ lăn theo gót chân

Vào cữ nắng hè ong ong, ủ lửa là lúc nắng già. Ngoài trời, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt hoa cả mắt. Người ta bảo đấy là " hoa nắng". Trời đứng gió, lá cây lặng ngắt. Nắng đổ lửa thế cà sai quả lắm. Quả cà nho nhỏ thu hết nắng vào trong. Quả nào quả nấy tròn vo, da căng bóng. Trong bấy nhiêu loại cà, mẹ chỉ kén cà xứ Thanh. Là vì quả vừa phải, trăm quả đều tăm tắp như những viên cuội. Cùi thì dầy mà ruột lại ít hạt.

Từ sáng sớm mẹ đã trở dậy, lập cập cắp thúng ra chợ. Tại đấy, người nhà quê ngược tàu mang về chẳng thiếu thứ gì. Nào khoai sọ, khoai lang, cà pháo, cà bát và cơ man là đỗ. Theo chân mẹ mỏi chân khắp chợ may ra mới mua được mẻ cà vừa ý. Đến xế chiều, nắng xiên khoai lọt qua dàn thiên lý, mát hẳn. Từng chùm hoa chín vàng, thoang thoảng mà lại thơm lâu. Mẹ nhẩn nha pha một ấm chè đặc, hai mẹ con cặm cụi cắt cà. Dao phải sắc như dao cau mới không "ăn" vào thịt cà. Như thế thì nén cà mới không bị ủng, không kháng. Vại muối cà phải là sành Hương Canh, đen nhánh, đanh lì. Qua mỗi mùa hè muối cả chục mẻ nên lớp vỏ sành đã thấm ngấm mấy lần nước muối mặn. Chẳng khác gì ấm pha trà ngấm dầy cao chè. Đá nén cũng phải kén đá cuội to, trơ lì và nhẵn thín. Nước muối mặn mấy cũng không thể ngấm vào. Các loại đá khác khi ngập chìm trong nước muối sẽ thôi ngấm ra, nước đục là cà có vị ngái. Ngay đến vỉ nén cũng phải đan bằng giang đã ngâm kỹ, gác trên gác bếp cho ngấm bồ hóng. Kỹ lưỡng đến thế rồi mẹ mới rải từng lớp cà. Cứ một lớp lại quải đều một lớp muối trắng. Nước đổ vừa xâm xấp mặt cà rồi thả dăm nhát giềng. Xong xuôi đặt vỉ, nén rõ chặt. Mẹ dặn, cứ vài ngày phải xem nước có ngót không. Cốt sao lúc nào cà cũng phải ngập nước. Đến khi vớt ra, để bao lâu cà vẫn trắng phau, không bị thâm tái...

Trong bếp có vại cà, cả nhà đủ sống qua ba tháng hè. Rau đay, rau ngót cũng một tay mẹ trồng trên mảnh vườn nhỏ sau nhà. Bên bờ rào, mồng tơi rậm rì xanh ngắt. Mùa hè nắng nôi, có bát canh rau với dăm quả cà là xong bữa. Lúc tối lửa tắt đèn, hàng xóm chạy sang xin dăm quả. Cả xóm thành ra nghiện cà mẹ muối. Ai cũng bảo muối cà tưởng là đơn giản. Hoá ra phải có " tay " thì cà nén mới giòn, trắng nõn và tuyệt nhiên không có vị chua...

Hũ mắm tép ấm lòng những ngày đông

Cuối hè, mấy trận mưa rào chưa thể xua hết cái oi nồng, bức bí. Tuy thế, khi gió chiều nổi lên đã thấy hơi lạnh phảng phất. Trên mặt hồ, mặt ao, tôm tép úi lên từng đám dầy đặc, sẫm cả mặt nước. Trời nhá nhem rồi tối dần. Mẹ bắc ghế ra đầu hè, bó gối ngồi. Một lúc sau thể nào cũng có ông lão đánh dậm đi ngang qua. Người chưa đến mà gió đã sực mùi tôm cá. Cái giỏ đựng tép nặng chịch, vít tấm lưng ông già gập xuống. Cái dậm thì to kềnh như chiếc diều cứ chực nhấc bổng thân người đẫm nước, tong teo. Mớ tép rui tươi nguyên trút ra rổ. Đầy những rong rêu, cọng cỏ. Mẹ khẽ đảo tay, hàng trăm con tép nhảy tanh tách. Nước bắn tứ phía, óng ánh như có vẩy bạc. Dưới đáy rổ thấy cả cọng vó, đòng đong, cân cấn, niềng niễng rúc đầu chạy ...

Ngọn đèn dầu thắp lên khoanh tròn một vầng sáng. Mẹ cặm cụi đãi nhặt ốc vặn, rơm rác. "Cái giống mắm tép phải làm rõ sạch và kỹ lắm. Chỉ hơi lẫn một tý là hỏng. Là ngả màu thâm xỉn, mất hẳn cái mầu đỏ hồng". Mẹ giảng giải như thế. Đãi đi đãi lại cho đến khi rổ tép trắng hồng, trong suốt, mẹ mới cho vào cối đá giã giậm. Có thế mắm mới nhuyễn, quánh dẻo. Xong đâu đấy, mẹ nhóm bếp rang thính. Ngọn lửa không được to quá, chỉ vừa lom dom. Nhất là phải đảo đều tay. Trăm hạt gạo như một, vàng rộm, nở đều như hoa cau chín. Thính giã vừa tới, không được vỡ vụn. Cứ thế, một lớp tép, lại quải một lớp thính. Khi cho mắm vào hũ, phải nút chặt bằng lá chuối khô. Lúc nào hũ mắm cũng để sát cạnh bếp.

Nhờ có lửa than, hơi nóng mắm ngấu chín. Suốt cả tháng trời cứ háo hức chờ lúc mẹ mở nút lá chuối. Ba gian nhà sực nức mùi vị ngọt ngào, thơm lạ thơm lùng. Chiều tối đi học về, chạy ù vào bếp. Cơm vừa chín tới để nguyên trên bếp. Mâm là cái mẹt chỉ có độc bát canh dưa vùi trong trấu. Tay mẹ xới lưng cơm nóng hôi hổi, rưới đều từng thìa mắm tươi hồng, đặc sánh. Hơi cơm bốc nghi ngút quyện với mùi mắm tép ngào ngạt. Mẹ nhìn con ăn, mắt rưng rưng. Ngoài trời gió lạnh đã về, hun hút lùa qua khe vách...

Của ngon vật lạ, mâm cao cỗ đầy rồi cũng chuội đi, có đọng lại gì. Sao vẫn nhớ cồn cào vị mắm tép, nhớ đến xót xa quả cà mẹ muối ngày nào. Ngót ba chục năm rồi có bao giờ tìm thấy nữa...



Theo Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam



Rau lang là một món dân dã, bình dị mà nhiều người vẫn nhớ về nó như một phần của tuổi thơ, một phần của làng quê mình ngày xưa lam lũ.
Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này
Rau lang xào tỏi phải lúc mỡ còn đang nóng giòn mới ngon.

Khi còn bé, mỗi độ tháng Chạp là bà và mẹ tôi bắt đầu trồng khoai lang trên ruộng nhà. Những ngọn khoai lang xanh non mập mạp vươn mình sau quãng thời gian giá rét cùng mưa phùn lây rây. Những ngày này, chỉ cần có món rau lang xào tỏi vừa mới bắc khỏi bếp ăn với cơm là đã có thể thành một bữa ăn ngon miệng.

Những ngọn rau lang đầu mùa thường căng mây mẩy tía, bóng mướt và mới lơ thơ vài lá non. Nếu mua rau từ chợ về, khi nhặt rau, bạn nên bỏ bớt lá to già, chỉ để lại ngọn và phần lá non, nếu không sẽ bị dai.

Người ta thường ngâm rau lang trong nước gạo để rau sạch và ngọt hơn. Cho rau vào chần qua nước sôi già rồi vớt ra. Để rau không bị nhũn thì sau đó ngâm ngay rau vào nước lạnh trong ít phút. Cùng với đó, chọn loại tỏi ta vị cay và thơm, băm đều.

Rau lang xào tỏi phải lúc mỡ còn đang nóng giòn mới ngon. Tôi nhớ những bữa bà tôi hoặc mẹ tôi làm món này, khắp căn bếp thơm lừng mùi tỏi phi, và vang tiếng rau lang chín xèo xèo trên mỡ nóng.

Hồi sinh viên, chúng tôi có một đợt thực tập dài ngày sang Thái Lan. Sau một tuần hàng ngày phải ăn đồ Thái cay và ngọt, cô bạn của tôi ỉu xìu ước ao: “Tao nhớ nhà, tao nhớ món rau lang xào! Khi về tao nhất định sẽ ra chợ mua mấy mớ liền về ăn cho đã…”. Tôi phì cười, tự hỏi không hiểu vì sao nó lại nhớ đến món rau lang xào chứ không phải là món ăn nào khác.

Ngày cuối cùng trước khi về Việt Nam, chúng tôi được một anh bạn người Thái “chiêu đãi”. Cả bọn nhất loạt đồng ý chọn một quán ăn Việt ở gần nơi thực tập. Cô bạn tôi (và cả nhóm chúng tôi nữa) đều hân hoan khi biết cửa hàng này có món rau lang xào.

Thưởng thức rau lang xào – món ăn bình dị, dân dã của Việt Nam ở Bangkok, lòng đứa nào cũng rưng rưng.


Các món ăn chế từ thịt dê vốn được coi là món đặc sản của vùng Phủ lý, Thanh Liêm, Kim Bảng.
Dê được chăn thả tự nhiên trên núi đá vùng Kim Bảng, Thanh Liêm vốn là loài ăn tạp các loại lá cây lại chạy nhảy trên núi cao quanh năm nên thịt dê núi có vị ngon đặc biệt. Từ dê người ta có thể chế biến ra rất nhiều món ăn khác nhau. Đầu tiên phải kể đến món tiết canh dê. Đây là một món ăn không chỉ ngon mà còn bổ dưỡng có tác dụng nhiều mặt. Thịt dê có thể chế ra các món khác như món thịt dê nướng, tái lăn...

tonghop


Bánh đa khô tráng vừng, quạt phổng địa phương nào chả có. Nhưng mỗi nơi có một bí quyết xay bột, tráng bánh và quạt lửa khác nhau dẫn đến chất lượng bánh đa khác nhau. Bánh đa xứ Kiện Khê - H. Thanh Liêm là một trong số bánh đa có tiếng trong vùng. Ăn bánh đa Kiện ta có được cảm giác giòn của bánh đa, vị thơm của vừng và có cả vị bùi, ngọt tự nhiên của bột gạo...Thật khó tả hết hương vị của bánh đa khô tráng vừng xứ Kiện. Để tăng thêm hương vị của bánh đa, người ta có thể ăn kết hợp bánh đa với chuối tiêu chín hoặc cùi dừa.

theo hanam247.com


Làng Đại Hoàng thuộc xã Nhân Hậu cũ nay là xã Hoà Hậu - huyện Lý Nhân vốn có nghề dệt vải lâu đời. Ngoài đặc sản hồng không hạt, chuối ngự và một vài món ăn dân tộc khác, còn có món cá kho được xếp vào diện món ăn đặc sản tiêu biểu của địa phương.
Cá kho ở đâu mà chả có! Đúng vậy nhưng cá kho Nhân Hậu có hương vị khác, hễ ai ăn một lần rồi thì nhớ mãi. Không rõ người dân Nhân Hậu có bí quyết chế biến, kho cá như thế nào, chỉ biết rằng vào dịp Tết, giỗ nhà nào cũng phải có một nồi cá kho vừa là một trong các món dùng cúng gia tiên, vừa làm thức ăn và dùng để tiếp khách trong bữa cơm của gia đình. Bánh chưng tết ăn với cá kho Nhân Hậu không còn gì ngon hơn. Cá kho có màu vàng xẫm, khi dùng đũa xắn thành miếng nhỏ ta cảm thấy như cá rắn chắc nhưng khi ăn miếng cá lại bở tơi trong miệng. Cá được kho khô cùng với một số gia vị như gừng, giềng, tương đậu...nên có mùi đặc trưng khó quên. Cá dùng để kho thường là cá trắm đen, cá trôi hay cá chép. Tuy nhiên các loại cá khác người dân Nhân Hậu đem kho đều có hương vị của cá kho Nhân Hậu.


Người dân Hà Nam nói chung và người dân Lý Nhân nói riêng có một nghề được truyền từ lâu đời lại là chế biến long nhãn. Vào mùa nhãn người dân Lý Nhân toả đi khắp nơi trên cả nước tìm mua nhãn và tổ chức chế biến ngay tại chỗ. Không những vậy có người còn bỏ vốn đầu tư hàng chục hec ta nhãn tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long để vừa làm trang trại và chế biến long nhãn.
Long nhãn là một vị thuốc quý được người Trung Quốc sử dụng từ lâu, chính vì vậy thị trường xuất khẩu long nhãn chủ yếu vẫn là thị trường Trung Quốc. Trước đây dân ta chưa biết đến long nhãn vì long nhãn còn quý hiếm. Ngày nay, do phát triển cây ăn quả trong đó có nhãn, việc chế biến long nhãn trở thành phổ biến nên trong các thang thuốc bổ dùng cho người mới ốm dậy đã thấy có vị long nhãn.

Để chế biến long nhãn, người ta phải đắp lò để sấy hoặc phơi khô quả rồi mới bóc vỏ bỏ hạt. Tuy nhiên không đơn giản chỉ có vậy bởi vì khi nhãn chín hàm lượng nước trong quả lớn, nếu không có kỹ thuật sấy, quả nhãn có thể vỡ, dập mất nước, ảnh hưởng tới chất lượng long.
Long nhãn chất lượng tốt là loại có cùi dày, vị ngọt, màu cánh gián, hương thơm đặc trưng, không lẫn tạp chất...

theo hanam247.com


Lý Nhân là một huyện nằm ven sông Hồng có đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt một số cây ăn quả như nhãn, chuối, cam chanh, hồng, quýt...
Quýt Lý Nhân đã từng nổi tiếng khắp nơi không những trong nước mà còn được xuất khẩu ra thị trường thế giới. Vào những năm 1960 - 1970 của thế kỷ XX, quýt Lý Nhân đã được xuất khẩu sang Liên Xô và một số nước Đông Âu cũ. Quýt có nhiều loại nhưng thơm, ngon, chất lượng hơn cả là Quýt Hương. Quýt Hương có mùi thơm riêng biệt. Xưa kia quýt Hương đã từng dùng làm đặc sản tiến vua.

Khác với giống quýt của địa phương khác, quýt Lý Nhân quả dẹt, vỏ giòn, mỏng vừa phải, khi chín màu vàng ươm. Cũng giống như cam, bề mặt của vỏ quýt có những hạt tinh dầu nhỏ li ti khi bóc tỏa ra mùi thơm đặc trưng của quýt. Hàng năm cứ vào mùa Rươi (tháng 9 - 10 Âm lịch) cũng là mùa quýt chín, người ta dùng vỏ quýt để làm tăng hương vị của món chả Rươi. Ngoài ra vỏ quýt còn dùng làm vị thuốc.
Hiện nay, quýt Lý Nhân đang được ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nam phối hợp với một số Viện khoa học lập dự án bảo tồn và phát triển giống quýt quý hiếm này.

 Chùa Tiên tọa lạc trên núi Đụn, thôn Đồi Ngang, xã Thanh Lưu huyện Thanh Liêm. Lễ hội chùa Tiên được phục dựng từ năm 1992, lễ hội diễn ra từ ngày mùng 1 đến ngày 3 tháng 3 âm lịch.


Tương truyền đây là vùng núi địa linh – nơi có 99 con phượng hoàng bay về cư ngụ trên đồi thông 99 ngọn và bàn cờ tiên – đêm đêm trăng thanh gió mát, tiên thường hạ giới đánh cờ và thưởng ngoạn núi non. Tưởng nhớ các bậc tiên thánh, nhân dân trong vùng đã lập chùa thờ tự. Hiện nay xung quanh khu vực chùa Tiên còn lưu giữ nhiều ngọc phả, sắc phong quý và có ý nghĩa lịch sử lớn của vùng đất Thanh Liêm. Trải qua hàng trăm năm, chùa đã được tu sửa nhiều lần.

Lễ hội chùa Tiên được phục dựng từ năm 1992, lễ hội diễn ra từ ngày mùng 1 đến ngày 3 tháng 3 âm lịch. Cùng với nghi thức rước mẫu lên chùa, nghi thức tế lễ cầu quốc thái dân an, lễ hội còn diễn ra nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ thu hút đông đảo tín đồ phật tử và khách thập phương tham gia.

theo  HaNam24h.vn

Ngôi nhà ở làng ‘Vũ Đại’ đã trải qua hơn một thế kỷ với nhiều đời chủ và nhiều lần “chết hụt”, nhưng vẫn hiên ngang.
Ở xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đang tồn tại một ngôi nhà gỗ 16 cây cột lim mái ngói, với nhiều hoa văn họa tiết tinh xảo. Kỳ lạ hơn khi ngôi nhà này đã trải qua hơn 100 năm với nhiều đời chủ… và nhiều lần “chết hụt” nhưng vẫn hiên ngang. Đó chính là ngôi nhà “Bá Kiến”, nguyên mẫu trong tác phẩm Chí Phèo của cố nhà văn Nam Cao.

Ngôi nhà có một kiến trúc độc đáo ít người biết đến

Cách trung tâm thành phố Phủ Lý (Hà Nam) chừng 40 km theo đường tỉnh lộ là xóm 11, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam (xưa kia gọi làng Đại Hoàng, xã Nhân Hậu, phủ Lý Nhân – Hà Nam), quê hương của cố nhà văn Nam Cao. Và cũng chính cố nhà văn Nam Cao là người đã viết nên tác phẩm để đời Chí Phèo với những nhân vật nổi tiếng như Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến… cho đến địa danh “làng Vũ Đại” đã đi vào lòng người từ bao thế hệ như một niềm tự hào dân tộc. Nhưng ít ai biết đến những câu chuyện thăng trầm xung quanh ngôi nhà Bá Kiến thực, vốn là nguyên mẫu trong tác phẩm Chí Phèo của cố nhà văn này.

Ngôi nhà này vốn từng thuộc sở hữu của ngụy viên Bắc kỳ Bá Bính. Bá Bính, tên thật là Trần Duy Bính (mất năm 1946) được cố nhà văn Nam Cao tiết lộ chính là nguyên mẫu nhân vật Bá Kiến. Đây có lẽ là lý do để cuộc đời nguyên mẫu cũng như ngôi nhà của ông này có nhiều kỳ lạ.

Nằm ngay sát bên con đường đất liên thôn ở xóm 11 xã Hòa Hậu là ngôi nhà Bá Kiến tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 900 m2, cửa ngoảnh theo hướng Tây -Nam. Hiện nay nếu nói người hiểu biết rõ nhất về ngôi nhà Bá Kiến này không ai khác chính là cụ Trần Bá Huấn (82 tuổi, xóm 11, xã Hòa Hậu), một cao niên trong làng. Vốn là một giáo viên về hưu đã hàng chục năm nay cụ Huấn tẩn mẩn tỉ mỉ cất công tìm hiểu nghiên cứu và ghi chép lại hồ sơ chi tiết về ngôi nhà này.

Ngôi nhà được lấy nguyên mẫu cho câu chuyện của nhà văn Nam Cao.

Cụ Huấn giới thiệu tỉ mỉ về kiến trúc đặc biệt của ngôi nhà: “Ngôi nhà này được kết cấu theo kiểu “lộn thềm ngưỡng chồng, tàu bảy then trâu chồng chóp”. Nhà có 3 gian theo truyền thống người Việt Nam, 4 hàng cột với tổng cộng 16 cây cột lim, chân cột được kê đá tảng là một loại đá xanh được đẽo gọt công phu giống nhau gần như 100%. Cửa ghép bức bàn, ngoài hiên có một hàng dãi dùng (hay còn gọi là tấm liếp) chống nắng và mưa được làm bằng gỗ. Tất cả gỗ của ngôi nhà này đều bằng lim. Trên các văng, kèo, li tô được chạm khắc nhiều chữ Nho, hình rồng. Đặc biệt trên nóc nhà (thượng ốc) có khắc dòng chữ Nho nói về thời gian chính xác năm làm ngôi nhà”.

“Khi đó, vôi cũng đang ít chứ chưa nói đến xi măng, người ta trộn mật mía, mù hóng vào vôi và thêm một số phụ gia khác như vỏ cây Bời lời để làm thành hồ xây nhà. Còn gạch dùng xây tường và lát nền nhà thì được nung bằng rơm nên dù qua thời gian nhưng bức tường vẫn không hề bong tróc. Mái nhà lợp duy nhất một loại ngói ta theo kiểu bít đốc, hai đầu bờ nóc có đấu vuông giật cấp”, cụ Huấn nói.

Lạ hơn khi được biết dù đã hơn 100 năm nhưng mái ngói của ngôi nhà này vẫn chưa một lần tu sửa nhưng vẫn phẳng lỳ một cách tuyệt đối và không bị dột nát. Tìm hiểu về sự lạ kỳ của mái ngói ngôi nhà này, các cụ cao niên trong làng “Vũ Đại” hiện nay đều kể rằng, trước khi đem ngói lợp lên ngôi nhà thì các tay thợ thi công ngôi nhà này dùng nước mù hóng đặc ngâm những viên ngói này vào nhiều giờ đồng hồ rồi sau đó đem ra phơi khô. Tiếp theo các viên ngói được chọn lọc về độ bền một cách rất cẩn thận với phương pháp được coi là rất đơn giản nhưng lại hiệu quả và tốn không ít thời gian đó là người ta lấy lần lượt 2 viên ngói “chọi vào nhau” (gõ nhẹ vào nhau), nếu viên nào rạn nứt hoặc vỡ bể thì viên đó bị loại bỏ và chỉ chọn lấy một viên còn lại. Cứ như thế phải hàng chục nghìn viên ngói thì các thợ thi công ngôi nhà mới chọn ra được một số lượng nhỏ ngói để dùng lợp ngôi nhà.

Không chỉ riêng ngôi nhà mà ngay cả phần sân trước ngôi nhà Bá Kiến cũng có những nét riêng. Theo cụ Huấn, diện tích mặt sân trước ngôi nhà là khoảng 70 m2 được lát bằng thứ gạch được nung bằng rơm cùng với loại gạch lát trong nền nhà, cũng đã trải qua thăng trầm cùng ngôi nhà nhưng phần gạch ở sân này cũng chưa hề bị hư hỏng.

Ở mép ngoài bờ sân ngay chính diện cửa chính ngôi nhà còn có một cái bể nước nho nhỏ hình chữ nhật khoảng 2 mét vuông mà theo lý giải của nhiều người thì việc cái bể nước được xây dựng như vậy là để hợp với phong thủy của ngôi nhà.

Hơn trăm năm tuổi vượt phong ba

Đến nay nếu nói để có một tài liệu chính thống nào ghi chép chính xác về ngôi nhà “Bá Kiến” là rất khó mà chỉ qua lời truyền tụng của mọi người. Về làng “Vũ Đại” hôm nay nếu hỏi về tuổi tác của ngôi nhà “Bá Kiến” chắc chắn từ trẻ con mẫu giáo đến các cụ cao niên đều thuộc lòng các câu thơ:

“Đại Hoàng còn lại một ngôi nhà
Nếp cổ gỗ lim mái ngói ta
Bảy chủ thay nhau quyền sở hữu
Hơn trăm năm tuổi vượt phong ba…”

Cụ Lễ Trần Thế Lễ (92 tuổi), xóm 11, xã Hòa Hậu, là một trong những người cao tuổi nhất làng đã giải mã tuổi tác và thăng trầm của ngôi nhà thông qua những câu thơ được truyền tụng này. Chính cụ cũng từng là người thiếu chút nữa trở thành chủ nhân thứ 5 của ngôi nhà. Nói về ngôi nhà cổ này, cụ Lễ vẫn còn nhớ như in:

“ Nhà ‘Bá Kiến’ tính đến bây giờ đã qua 7 đời chủ. Chủ thứ nhất là cụ Cựu Hanh. Cụ Hanh là một lái buôn giàu có. Vào khoảng thập niên đầu tiên của thế kỷ XX (những năm 1910), cụ thuê hơn 20 thợ nổi tiếng làm nghề mộc ở Cao Đà, Phủ Lý Nhân về làm mấy tháng trời ròng rã mới xong. Đây cũng chính là ngôi nhà gỗ đặc biệt công phu mà khắp cả Phủ Lý Nhân và các tỉnh lân cận ở xứ Bắc Kỳ thời này đều chưa có. Khi Cụ Hanh mất đi để lại cho con là Trần Duy Xầm. Cụ Xầm mất đi để lại cho con cả là Cựu Cát. Cựu Cát là người chơi bời nghiện ngập rượu chè, thường hay vay nợ, sau đó Cựu Cát đã gạt nợ ngôi nhà về tay cụ Bá Bính (tên thật là Trần Bá Bính)”.

Cụ Bá Bính chính là nguyên mẫu của nhân vật Bá Kiến được nhà văn Nam Cao xây dựng trong tác phẩm “Chí Phèo”. Và cũng chính từ khi ngôi nhà vào tay cụ Bá Bính thì câu chuyện về ngôi nhà mới trở nên đặc biệt. Đây cũng là lý do giải thích tại sao ngôi nhà lại gắn liền với tên chủ nhân là nhà “Bá Kiến” được truyền tụng qua bao thế hệ nay.

Bá Bính mất đi để lại gia sản cho con là Trần Duy Tảo hay còn gọi là Binh Tảo kế thừa, vốn là con trai của bà cả. Sau khi bà cả chết, cụ Bá Bính đã lấy vợ hai. Binh Tảo nghiện rượu, những đồ đạc trong nhà ông đều mang đi cầm cố và bán sạch. Căn nhà là tài sản quý giá nhất cũng bị ông đem ra rao bán, và chính cụ Trần Thế Lễ bấy giờ đã có ý định mua ngôi nhà về xẻ làm gỗ, nhưng cụ Lễ chưa mua được thì ngôi nhà được cụ Cai Hậu, tên thật là Trần Hữu Hậu là một Việt kiều mua lại để định cư. Giá ngôi nhà lúc đó cụ Hậu mua là 4.500 đồng (tương đương với hàng chục cây vàng thời bấy giờ). Chủ nhân thứ 7 của ngôi nhà ông Trần Hữu Hòa, là cháu cụ Cai Hậu. Ông Hòa chính là chủ nhân cuối trước khi UBND tỉnh Hà Nam có quyết định lưu giữ ngôi nhà này vào năm 2007 sau khi đã thương thảo với bà Trần Thị Sâm (vợ ông Hòa) để mua lại ngôi nhà với giá 700 triệu đồng.

Ngôi nhà có ‘vía’ rất cao

Chính sự tồn tại hơn 100 năm với 7 đời chủ sở hữu mà mỗi khi nhắc đến ngôi nhà thì người dân làng “Vũ Đại” lại ví rằng căn nhà có một số phận như con người và nó có “vía” rất cao. “Vía” của ngôi nhà càng được kiểm định khi chính ngôi nhà đã vận cho mình sự may rủi nhất định đó là căn nhà đã hai lần phải “chết hụt” vì những tai nạn và những biến đổi của lịch sử.

Nói về chuyện ngôi nhà 2 lần “chết hụt” thì không ai hiểu rõ câu chuyện bằng cụ Trần Bá Huấn (81 tuổi), xóm 11, xã Hòa Hậu. Chính cụ Huấn là một trong 2 du kích địa phương trực tiếp dập lửa cứu ngôi nhà khi thực dân Pháp phóng hỏa đốt.

Cụ Huấn kể lại: “Năm 1953 khi thực dân Pháp mở trận càn lớn nhằm vào các làng xã nơi đây, trong đó có làng Đại Hoàng. Khi đó tôi 19 tuổi tham gia du kích địa phương làm nhiệm vụ cắm chông. Hôm đó lúc giặc đến thì tôi và Huỳnh trú ẩn tại một căn hầm bí mật gần ngôi nhà Bá Bính. Thực dân Pháp càn tới dùng chất hóa học bôi lên cột nhà sau đó phóng hỏa đốt. Nhưng lúc lửa bắt đầu bén cháy thì bọn thực dân Pháp lại có kèn báo hiệu rút quân. Chúng tôi lên khỏi hầm thì thấy cột nhà đã cháy, lửa bắt đầu lan lên mái. Hai anh em vội vã dùng xô, gàu múc nước dập lửa”.

Còn lần thứ 2 ngôi nhà này thiếu chút nữa bị người ta mua để xẻ ra lấy gỗ. Khi đã có người ngỏ ý mua về xẻ lấy gỗ nhưng chưa thực hiện được thì rất may có người đi nước ngoài về mua lại ngôi nhà với giá cao hơn để định cư.

Còn lần “chết hụt” nữa của ngôi nhà này xảy ra khi ngôi nhà đang thuộc quyền sở hữu của con trai cụ Bá Bính – tức Binh Tảo, Binh Tảo túng quẫn trong rượu chè đã rao bán ngôi nhà và chính người hỏi mua là ông Trần Thế Lễ, người vốn nổi tiếng là giàu có trong vùng thời bấy giờ. Ông Lễ gạ mua căn nhà với mục đích xẻ lấy 16 cột gỗ được làm bằng lim. Rất may, khi ý định ấy chưa được thực hiện thì một Việt kiều là cụ cai Hậu đã hỏi mua với mục đích định cư lâu dài. Cũng lần ấy, số phận căn nhà nhờ thuộc về cụ cai Hậu mà thoát khỏi “án tử”.

Lý giải về “vía” của ngôi nhà “Bá Kiến” cao để có thể tồn tại với thăng trầm lịch sử như vậy, các cao niên thạo Nho văn ở làng Đại Hoàng hiện nay cho hay: “Chính bởi xuất xứ của ngôi nhà gỗ đặc biệt này lại qua tay những người có máu mặt bậc nhất ở làng “Vũ Đại” lúc bấy giờ sở hữu nên việc ngôi nhà có cái “vía” cao như minh chứng lịch sử đã hiện hữu là có thể dễ hiểu. Đó bởi là trong mỗi con người đều có sẵn cái “vía”, có người “vía” cao, có người “vía” thấp, tương tự như vậy ngôi nhà “Bá Kiến” cũng có số phận như một con người, và có ‘vía’ rất cao”.

Đêm 27/2 tức 14 tháng Giêng Âm lịch, Lễ Phát lương Đức Thánh Trần được tổ chức lần đầu tiên tại đền Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan về dự.


Đền Trần Thương là một trong 3 ngôi đền lớn của cả nước thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn cùng gia quyến và các Bộ tướng có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông năm 1258. Tương truyền đây là nơi đặt kho lương của nhà Trần phục vụ cho cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giữ yên cõi bờ Đại Việt.

Sau nghi lễ dâng hương hoa, thắp nến tưởng niệm công đức Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, nguyện cầu quốc thái dân an, đúng 23h30', Ban tổ chức Lễ hội tiến hành nghi lễ dâng hương, mở kho lương Thánh Trần phân phát khoảng 5.000 túi lương, gồm các vật phẩm ngô vàng, thóc nếp và tờ in Ấn vua Trần cho người dự lễ.

Lễ hội phát lương Đức Thánh Trần là dịp để thế hệ hôm nay tưởng nhớ công lao của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, hiểu thêm về lối dụng binh, phép trị nước, chính sách khoan thư sức dân của nhà Trần và giáo dục mọi người tinh thần tiết kiệm, chăm lo phát triển nông nghiệp, xây dựng cuộc sống ngày càng no ấm.

Bà Đỗ Thị Mùi, một du khách dự lễ bày tỏ: “Hội năm nay đông vui hơn mọi năm. Chúng tôi mong Đức Thánh Trần phù hộ độ trì cho dân mạnh khỏe, làm, ăn ngày càng phát đạt. Mong đất nước thanh bình, lớp trẻ học hành thông minh, tiến tới….”./.


Theo Vovnews

Từ thị xã Phủ Lý đi 3km tới dốc Đọ, rẽ tay trái 2km vào đường liên xã, đến thôn An Hòa rẽ phải 300m là đến di tích.

Cổng đình An Hòa
Đình An Hòa thờ hoàng tử Linh Lang và phò mã Kiều Đức Mậu thời Lý. Tương truyền trên đường đi đánh giặc phương nam, Linh Lang đã dừng lại vùng An Hòa để chiêu mộ binh sĩ. Trong số trai trái tình nguyện đi theo, Kiều Đức Mậu được phong làm tướng. Theo người dân địa phương, khu đất hình con rùa ở đây chính là nơi mà trước đây hoàng tử Linh Lang đã đóng quân, lập đồn và huấn luyện quân sĩ. Vì vậy, khi hoàng tử Linh Lang mất, dân đã chọn nơi đây để lập đền thờ. Vị thần được thờ cùng Linh Lang là Kiều Đức Mậu. Ông là người ở vùng núi phía tây huyện Thanh Liêm. Sau khi cùng Linh Lang đánh thắng giặc phương nam, ông được vua Lý Thái Tông chọn làm phò mã. Bởi mến cảnh vùng này nên ông cho lập cung ở đây, lại cung cấp tiền của để chiêu dân lập ấp tại vùng này. Do vậy, nhân dân ở đây vẫn thờ ông làm ông tổ có công lập nên làng xã. Tại đây còn có riêng một ban thờ các tổ lập làng xây dựng quê hương.
Đình An Hòa được xây dựng trên khu đất rộng, mặt trước đình có hồ rộng, hệ thống cột đồng trụ, tường bao. Tòa tiền đường là một công trình mái cong, 4 mái trải rộng nhưng do những trang trí ở hệ thống dao góc nên vẫn nhẹ nhàng, thanh thoát. Mái được lợp ngói mũi hài, nhà được làm theo lối chồng rường bẩy kẻ. Bộ khung công trình được làm theo lối tứ trụ, có 8 cột cái và cột quan. Các cột cái được làm theo lối búp đòng, chân cột được đặt trên tảng đá vuông xanh có chạm nổi gương tròn để đỡ chân cột. Hệ thống bẩy có bẩy tiền, bẩy hậu và 12 bẩy phụ. Hệ thống đòn bẩy hòa nhập với kẻ góc thành một tổng thể tự nhiên thể hiện kỹ thuật lành nghề của nghệ nhân dân gian.
Đình An Hòa được thiết kế theo kiểu mái cong, chỉ có 4 vì nên hệ thống cột là bộ đỡ quan trọng nhất của khung nhà. Ngoài 8 cột cái được làm theo kiểu phổ biến ở đình là kiểu cột búp đòng chân cột đặt trên đá tảng đế vuông, trên mặt đế chạm nổi gương tròn để đỡ chân cột có hệ thống cột quân có đường kính 0,3m, rất hài Hòa với cột cái cũng được chọn gỗ để làm. Vì vậy đã qua 400 năm mà vẫn bền vững, vẫn nổi vẻ đẹp kiểu dáng, đến các đường vân của gỗ. Hệ thống câu đầu của đình cũng rất lớn, dài tới 4,5m là kiểu má chai, giữa to hai đầu nhỏ dần. Dạ câu đầu tạo gờ chỉ, lá sồi trang trí đẹp mắt. Câu đầu còn được đặt trên hệ thống đầu dư rất cầu kỳ. Mẫu đầu dư là một đầu rồng được chạm kênh bong đã thể hiện đường nét nhấn tỉa khá phóng khoáng. Mỗi đầu dư một vẻ nhưng không hề dập khuôn. Điều đặc biệt là phía sau của đầu dư vừa lá phía sau của đầu cột cũng được đục chạm tạo thân hoặc đuôi rồng, chứng tỏ yêu cầu thẩm mỹ của công trình này được đặt ra rất cao.
Hệ thống bẩy ở đây gồm có bẩy tiền, bẩy hậu và 12 bẩy phụ ở góc dao và mái trái. Các bẩy nào cũng được tạo dáng có kích cỡ khác nhau, đặc điểm cao thấp khác nhau để đỡ cho mái cong dần về hai phía với độ uốn lượn đều đặn cả bốn mái. Cũng như các công trình kiến trúc cổ khác, phần chạm khắc được ưu tiên cho hàng bẩy tiền và quan trọng hơn là những bẩy ở gian chính giữa công trình. Những chiếc bẩy ở đây được chạm khắc trong nhiều đề tài như long chầu, long vân uốn lượn sinh động. Đan xen các đề tài còn có lá lật, lá hảo và các lớp chỉ lồng, chỉ kép dùng để trang trí dạ và thành bẩy, khiến những khúc gỗ to, cứng giữ chức năng đỡ bộ máy nặng nề lại trở thành mềm mại, hấp dẫn.

Đình An Hòa
Kẻ góc của đình An Hòa cũng Hòa nhập với tổng thể công trình, nhất là với hệ thống đòn bẩy. Nhưng việc thi công bốn kẻ góc mà dân gian thường gọi là xà cổ ngỗng, để vừa đảm bảo mỹ thuật vừa uốn lượn tự thân con rồng là điều rất khó. Người thợ phải chắp nối gỗ theo kỹ thuật lành nghề mới đạt được cả hai yêu cầu kỹ thuật và mỹ thuật. Trên lớp vì được tạo lớp lớp con rường, trụ non đấu trụ. Để giải quyết chức năng giữ hoành mái, các cấu kiện này còn được làm theo kiểu dáng ống tơ, cho hàng con rường nhẹ nhõm. Hai đầu lại tạo dáng một con thú ghé vai đỡ hoành, hoặc điểm các hoạ tiết hoa lá,  lá hoa nên tuy cả mảng là gỗ xếp lên nhau mà vẫn không có cảm giác nặng nề.
Điều đáng quan tâm về nghệ thuật điêu khắc là các mảng chạm trên con rường, hà diệp, xà nách, xà đùi ở hai gian trái đình. Các nghệ nhân đã thể hiện các đề tài tứ linh: cảnh rồng mớm, rồng âu yếm vờn nhau, cảnh trúc hoá, sen hoá, cảnh đầu người mình chim cũng thể hiện rất sinh động, cảnh rồng mẹ vui với rồng con, ly to lấy chân gìm giữ ly con, ly cắn tai rồng, ly cắn đuôi… Cảnh nào cũng là những đường nét chạm hóm hỉnh, bao hàm nhiều ý nghĩa sâu xa.
Những đề tài nổi trội mà ít nơi có được, đó là mảng chạm khắc dân gian khiêm tốn nép mình ở một số cấu kiện trong đình An Hòa. Trên cảnh ván bưng có cảnh hai người ôm đôi gà chọi trên tay, mà đôi gà vẫn chõ mỏ vào nhau như đang dở cuộc đấu. Giữa khung cảnh người và vật còn có hoạ tiết bông hoa làm tăng thêm ý nghĩa trò chơi gà chọi, một môn chơi truyền thống lành mạnh trong những ngày xuân. Trên xà nách gian giữa, ngoài các cảnh tứ linh, các băng lá sòi sen hóa nghệ thuật còn có cảnh tiên cưỡi rồng, cảnh con hổ nhe răng rất dữ tợn, cảnh chim và sóc đang tranh ăn, cảnh ly leo trên cây ăn quả, cảnh ly đeo chuỗi nhạc ngựa và người đang giành giữ nhau, người lấy chân đạp giữ chân ly. Trên trụ non người thợ còn chạm cảnh hai con thú đang ôm giữ bông hoa sen cách điệu. Tại hàng xà nách phía trong ngoài các đề tài tứ linh sinh động, hoa lá, lá hỏa, vân ám còn nổi lên cảnh người đóng khố leo cây, một tay hái quả, một tay giữ cành. Đây là cảnh hái dừa. Những con người được cách điệu rất to lớn so với cây cối xung quanh.
Trên hạ điệp còn chạm nổi cảnh hai chiếc thuyền rồng. Một chiếc đang đi với bốn người đóng khố chèo thuyền và một chiếc đã khuất. Dòng nước ở đây còn gợn sóng nổi lên hình cá lượn trên sông. Đây không phải là ảnh bơi chải bình thường thấy trong lễ hội dân gian, mà là cảnh bơi thuyền rồng. Chắc nghệ nhân muốn đưa hình ảnh này gắn với sự kiện hoàng tử Linh Lang cùng với tướng hành binh trên sông đi chinh phạt giặc ở phương Nam. Ở đây lại còn cảnh con cốc đang nghếch cổ lên, miệng thì ngậm con cá. Tất cả những mảng chạm khắc ở đình An Hòa đã góp phần nâng cao giá trị cho công trình kiến trúc lên rất nhiều. Các mảng chạm khắc không chỉ phong phú về nội dung, đa dạng về đề tài mà còn được thể hiện bằng những tay nghề điêu luyện làm cho những mảng trang trí ở đây có hồn, sống được cùng thời gian. Nhiều cơ quan Trung ương và địa phương đã về sao chép, phục chế để được giới thiệu rộng rãi những tác phẩm nghệ thuật đình An Hòa với nhân dân trong nước và thế giới. Đó là niềm tự hào cho địa phương.
Đình An Hòa là một công trình quy mô nên thờ cúng có quy cách lớn và được làm rất kỳ công, có giá trị về mặt nghệ thuật.
Trong số bốn cỗ ngai ở đình có ngai cỗ tương đối lớn có quy cách 1,4x0,8x0,7m. Đây là hai ngai thờ Linh Lang đại vương và phò mã bản thổ tôn thần. Ngai được sơn son thiếp vàng lộng lẫy, rất kỳ công trong nghệ thuật tạo dáng và điêu khắc. Tay ngai làm kiểu rồng chầu, sáu trụ chạm sáu rồng leo, đan xen vân ám và các vòng tiện trang trí. Sập ngai là nơi đặt long bài cũng được tạo dáng rất đẹp theo kiểu chân quỳ dạ cá. Từ mặt sập, cổ sập, bệ dưới của sập cũng được gia công nghệ thuật bằng các đường chỉ viền, các băng hoạ tiết, lá sòi, cánh sen chạy quanh với các ô mảng chạm thong phong, tứ linh hoặc hoa lá rất sinh động.
Chiếc hương án ở chính gian giữa cao 1,5x1,7x0,75m cũng được làm rất cầu kỳ. Hương án chia làm hai phần có thể tháo rời một cách dễ dàng. Phần trên gồm mặt hương án, được làm to thân dưới, lại trang trí rất hài hòa. Từ bao loan với dáng rồng, ly đến các băng hoa lá viền mép, những khuông chạm tứ linh, hổ phù cũng được nhấn tỉa tài tình. Thân dưới hương án được tạo nhiều ô mảng theo các đề tài long chầu, phượng vũ, long mã đi trên nước, rùa ẩn hiện trong ao sen vừa cách điệu vừa rất hiện thực. Chính giữa thân hương án có cả mảng chạm long cuốn thuỷ, được đục kênh bong vừa đẹp vừa tổng thể, vừa hấp dẫn ở từng chi tiết. Hai bên hương án cũng được trang trí công phu theo nhiều đề tài.
Chiếc bát hương đồng cao 0,5m cũng là hiện vật tiêu biểu. Bát hương có hình trụ, bên tai là hai con rồng nổi vươn cao bám giữ thân bát hương. Hai bên còn đúc nổi hoạ tiết ly chầu, phượng múa, đôi hạc chầu, hổ phù, long mã và trên miệng bát hương còn có hình mặt nguyệt, âm ám, phía dưới nổi lên bốn chữ  “Thánh cung vạn tuế” hài hòa với tổng thể. Tạo được một bát hương đồng mà họa tiết nổi lên như dính trên thành, trên miệng quả là một kỹ thuật khó, hơn nữa, các họa tiết trên bát hương đồng lại rất cầu kỳ. Đó là những thành tựu đáng tự hào về nghệ thuật cổ truyền của dân tộc.
Bức võng cố định rất lớn đã làm tăng vẻ uy nghiêm và vẻ đẹp cho công trình. Hệ thống riềm trên hai bức võng tạo dáng độc đáo được lắp vát nghiêng chếch về phía trước đã tạo thêm độ sâu và rất hài hòa với bố cục. Trên cùng cửa võng có những hoạ nét lượn cong chầu nguyệt, riềm hai bên chạm long chầu, phượng múa, ly và quy. ở giữa bức võng có bốn chữ "Thiên định phúc thần" (vị phúc thần do trời đưa xuống). Bức của võng được đục chạm trổ tinh xảo, lại bố cục đăng đối nên rất hòa nhập với tổng thể mảng chạm khắc của công trình trên.

Theo Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam