vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:

Ngôi nhà ở làng ‘Vũ Đại’ đã trải qua hơn một thế kỷ với nhiều đời chủ và nhiều lần “chết hụt”, nhưng vẫn hiên ngang.
Ở xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đang tồn tại một ngôi nhà gỗ 16 cây cột lim mái ngói, với nhiều hoa văn họa tiết tinh xảo. Kỳ lạ hơn khi ngôi nhà này đã trải qua hơn 100 năm với nhiều đời chủ… và nhiều lần “chết hụt” nhưng vẫn hiên ngang. Đó chính là ngôi nhà “Bá Kiến”, nguyên mẫu trong tác phẩm Chí Phèo của cố nhà văn Nam Cao.

Ngôi nhà có một kiến trúc độc đáo ít người biết đến

Cách trung tâm thành phố Phủ Lý (Hà Nam) chừng 40 km theo đường tỉnh lộ là xóm 11, xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam (xưa kia gọi làng Đại Hoàng, xã Nhân Hậu, phủ Lý Nhân – Hà Nam), quê hương của cố nhà văn Nam Cao. Và cũng chính cố nhà văn Nam Cao là người đã viết nên tác phẩm để đời Chí Phèo với những nhân vật nổi tiếng như Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến… cho đến địa danh “làng Vũ Đại” đã đi vào lòng người từ bao thế hệ như một niềm tự hào dân tộc. Nhưng ít ai biết đến những câu chuyện thăng trầm xung quanh ngôi nhà Bá Kiến thực, vốn là nguyên mẫu trong tác phẩm Chí Phèo của cố nhà văn này.

Ngôi nhà này vốn từng thuộc sở hữu của ngụy viên Bắc kỳ Bá Bính. Bá Bính, tên thật là Trần Duy Bính (mất năm 1946) được cố nhà văn Nam Cao tiết lộ chính là nguyên mẫu nhân vật Bá Kiến. Đây có lẽ là lý do để cuộc đời nguyên mẫu cũng như ngôi nhà của ông này có nhiều kỳ lạ.

Nằm ngay sát bên con đường đất liên thôn ở xóm 11 xã Hòa Hậu là ngôi nhà Bá Kiến tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 900 m2, cửa ngoảnh theo hướng Tây -Nam. Hiện nay nếu nói người hiểu biết rõ nhất về ngôi nhà Bá Kiến này không ai khác chính là cụ Trần Bá Huấn (82 tuổi, xóm 11, xã Hòa Hậu), một cao niên trong làng. Vốn là một giáo viên về hưu đã hàng chục năm nay cụ Huấn tẩn mẩn tỉ mỉ cất công tìm hiểu nghiên cứu và ghi chép lại hồ sơ chi tiết về ngôi nhà này.

Ngôi nhà được lấy nguyên mẫu cho câu chuyện của nhà văn Nam Cao.

Cụ Huấn giới thiệu tỉ mỉ về kiến trúc đặc biệt của ngôi nhà: “Ngôi nhà này được kết cấu theo kiểu “lộn thềm ngưỡng chồng, tàu bảy then trâu chồng chóp”. Nhà có 3 gian theo truyền thống người Việt Nam, 4 hàng cột với tổng cộng 16 cây cột lim, chân cột được kê đá tảng là một loại đá xanh được đẽo gọt công phu giống nhau gần như 100%. Cửa ghép bức bàn, ngoài hiên có một hàng dãi dùng (hay còn gọi là tấm liếp) chống nắng và mưa được làm bằng gỗ. Tất cả gỗ của ngôi nhà này đều bằng lim. Trên các văng, kèo, li tô được chạm khắc nhiều chữ Nho, hình rồng. Đặc biệt trên nóc nhà (thượng ốc) có khắc dòng chữ Nho nói về thời gian chính xác năm làm ngôi nhà”.

“Khi đó, vôi cũng đang ít chứ chưa nói đến xi măng, người ta trộn mật mía, mù hóng vào vôi và thêm một số phụ gia khác như vỏ cây Bời lời để làm thành hồ xây nhà. Còn gạch dùng xây tường và lát nền nhà thì được nung bằng rơm nên dù qua thời gian nhưng bức tường vẫn không hề bong tróc. Mái nhà lợp duy nhất một loại ngói ta theo kiểu bít đốc, hai đầu bờ nóc có đấu vuông giật cấp”, cụ Huấn nói.

Lạ hơn khi được biết dù đã hơn 100 năm nhưng mái ngói của ngôi nhà này vẫn chưa một lần tu sửa nhưng vẫn phẳng lỳ một cách tuyệt đối và không bị dột nát. Tìm hiểu về sự lạ kỳ của mái ngói ngôi nhà này, các cụ cao niên trong làng “Vũ Đại” hiện nay đều kể rằng, trước khi đem ngói lợp lên ngôi nhà thì các tay thợ thi công ngôi nhà này dùng nước mù hóng đặc ngâm những viên ngói này vào nhiều giờ đồng hồ rồi sau đó đem ra phơi khô. Tiếp theo các viên ngói được chọn lọc về độ bền một cách rất cẩn thận với phương pháp được coi là rất đơn giản nhưng lại hiệu quả và tốn không ít thời gian đó là người ta lấy lần lượt 2 viên ngói “chọi vào nhau” (gõ nhẹ vào nhau), nếu viên nào rạn nứt hoặc vỡ bể thì viên đó bị loại bỏ và chỉ chọn lấy một viên còn lại. Cứ như thế phải hàng chục nghìn viên ngói thì các thợ thi công ngôi nhà mới chọn ra được một số lượng nhỏ ngói để dùng lợp ngôi nhà.

Không chỉ riêng ngôi nhà mà ngay cả phần sân trước ngôi nhà Bá Kiến cũng có những nét riêng. Theo cụ Huấn, diện tích mặt sân trước ngôi nhà là khoảng 70 m2 được lát bằng thứ gạch được nung bằng rơm cùng với loại gạch lát trong nền nhà, cũng đã trải qua thăng trầm cùng ngôi nhà nhưng phần gạch ở sân này cũng chưa hề bị hư hỏng.

Ở mép ngoài bờ sân ngay chính diện cửa chính ngôi nhà còn có một cái bể nước nho nhỏ hình chữ nhật khoảng 2 mét vuông mà theo lý giải của nhiều người thì việc cái bể nước được xây dựng như vậy là để hợp với phong thủy của ngôi nhà.

Hơn trăm năm tuổi vượt phong ba…

Đến nay nếu nói để có một tài liệu chính thống nào ghi chép chính xác về ngôi nhà “Bá Kiến” là rất khó mà chỉ qua lời truyền tụng của mọi người. Về làng “Vũ Đại” hôm nay nếu hỏi về tuổi tác của ngôi nhà “Bá Kiến” chắc chắn từ trẻ con mẫu giáo đến các cụ cao niên đều thuộc lòng các câu thơ:

“Đại Hoàng còn lại một ngôi nhà
Nếp cổ gỗ lim mái ngói ta
Bảy chủ thay nhau quyền sở hữu
Hơn trăm năm tuổi vượt phong ba…”

Cụ Lễ Trần Thế Lễ (92 tuổi), xóm 11, xã Hòa Hậu, là một trong những người cao tuổi nhất làng đã giải mã tuổi tác và thăng trầm của ngôi nhà thông qua những câu thơ được truyền tụng này. Chính cụ cũng từng là người thiếu chút nữa trở thành chủ nhân thứ 5 của ngôi nhà. Nói về ngôi nhà cổ này, cụ Lễ vẫn còn nhớ như in:

“ Nhà ‘Bá Kiến’ tính đến bây giờ đã qua 7 đời chủ. Chủ thứ nhất là cụ Cựu Hanh. Cụ Hanh là một lái buôn giàu có. Vào khoảng thập niên đầu tiên của thế kỷ XX (những năm 1910), cụ thuê hơn 20 thợ nổi tiếng làm nghề mộc ở Cao Đà, Phủ Lý Nhân về làm mấy tháng trời ròng rã mới xong. Đây cũng chính là ngôi nhà gỗ đặc biệt công phu mà khắp cả Phủ Lý Nhân và các tỉnh lân cận ở xứ Bắc Kỳ thời này đều chưa có. Khi Cụ Hanh mất đi để lại cho con là Trần Duy Xầm. Cụ Xầm mất đi để lại cho con cả là Cựu Cát. Cựu Cát là người chơi bời nghiện ngập rượu chè, thường hay vay nợ, sau đó Cựu Cát đã gạt nợ ngôi nhà về tay cụ Bá Bính (tên thật là Trần Bá Bính)”.

Cụ Bá Bính chính là nguyên mẫu của nhân vật Bá Kiến được nhà văn Nam Cao xây dựng trong tác phẩm “Chí Phèo”. Và cũng chính từ khi ngôi nhà vào tay cụ Bá Bính thì câu chuyện về ngôi nhà mới trở nên đặc biệt. Đây cũng là lý do giải thích tại sao ngôi nhà lại gắn liền với tên chủ nhân là nhà “Bá Kiến” được truyền tụng qua bao thế hệ nay.

Bá Bính mất đi để lại gia sản cho con là Trần Duy Tảo hay còn gọi là Binh Tảo kế thừa, vốn là con trai của bà cả. Sau khi bà cả chết, cụ Bá Bính đã lấy vợ hai. Binh Tảo nghiện rượu, những đồ đạc trong nhà ông đều mang đi cầm cố và bán sạch. Căn nhà là tài sản quý giá nhất cũng bị ông đem ra rao bán, và chính cụ Trần Thế Lễ bấy giờ đã có ý định mua ngôi nhà về xẻ làm gỗ, nhưng cụ Lễ chưa mua được thì ngôi nhà được cụ Cai Hậu, tên thật là Trần Hữu Hậu là một Việt kiều mua lại để định cư. Giá ngôi nhà lúc đó cụ Hậu mua là 4.500 đồng (tương đương với hàng chục cây vàng thời bấy giờ). Chủ nhân thứ 7 của ngôi nhà ông Trần Hữu Hòa, là cháu cụ Cai Hậu. Ông Hòa chính là chủ nhân cuối trước khi UBND tỉnh Hà Nam có quyết định lưu giữ ngôi nhà này vào năm 2007 sau khi đã thương thảo với bà Trần Thị Sâm (vợ ông Hòa) để mua lại ngôi nhà với giá 700 triệu đồng.

Ngôi nhà có ‘vía’ rất cao

Chính sự tồn tại hơn 100 năm với 7 đời chủ sở hữu mà mỗi khi nhắc đến ngôi nhà thì người dân làng “Vũ Đại” lại ví rằng căn nhà có một số phận như con người và nó có “vía” rất cao. “Vía” của ngôi nhà càng được kiểm định khi chính ngôi nhà đã vận cho mình sự may rủi nhất định đó là căn nhà đã hai lần phải “chết hụt” vì những tai nạn và những biến đổi của lịch sử.

Nói về chuyện ngôi nhà 2 lần “chết hụt” thì không ai hiểu rõ câu chuyện bằng cụ Trần Bá Huấn (81 tuổi), xóm 11, xã Hòa Hậu. Chính cụ Huấn là một trong 2 du kích địa phương trực tiếp dập lửa cứu ngôi nhà khi thực dân Pháp phóng hỏa đốt.

Cụ Huấn kể lại: “Năm 1953 khi thực dân Pháp mở trận càn lớn nhằm vào các làng xã nơi đây, trong đó có làng Đại Hoàng. Khi đó tôi 19 tuổi tham gia du kích địa phương làm nhiệm vụ cắm chông. Hôm đó lúc giặc đến thì tôi và Huỳnh trú ẩn tại một căn hầm bí mật gần ngôi nhà Bá Bính. Thực dân Pháp càn tới dùng chất hóa học bôi lên cột nhà sau đó phóng hỏa đốt. Nhưng lúc lửa bắt đầu bén cháy thì bọn thực dân Pháp lại có kèn báo hiệu rút quân. Chúng tôi lên khỏi hầm thì thấy cột nhà đã cháy, lửa bắt đầu lan lên mái. Hai anh em vội vã dùng xô, gàu múc nước dập lửa”.

Còn lần thứ 2 ngôi nhà này thiếu chút nữa bị người ta mua để xẻ ra lấy gỗ. Khi đã có người ngỏ ý mua về xẻ lấy gỗ nhưng chưa thực hiện được thì rất may có người đi nước ngoài về mua lại ngôi nhà với giá cao hơn để định cư.

Còn lần “chết hụt” nữa của ngôi nhà này xảy ra khi ngôi nhà đang thuộc quyền sở hữu của con trai cụ Bá Bính – tức Binh Tảo, Binh Tảo túng quẫn trong rượu chè đã rao bán ngôi nhà và chính người hỏi mua là ông Trần Thế Lễ, người vốn nổi tiếng là giàu có trong vùng thời bấy giờ. Ông Lễ gạ mua căn nhà với mục đích xẻ lấy 16 cột gỗ được làm bằng lim. Rất may, khi ý định ấy chưa được thực hiện thì một Việt kiều là cụ cai Hậu đã hỏi mua với mục đích định cư lâu dài. Cũng lần ấy, số phận căn nhà nhờ thuộc về cụ cai Hậu mà thoát khỏi “án tử”.

Lý giải về “vía” của ngôi nhà “Bá Kiến” cao để có thể tồn tại với thăng trầm lịch sử như vậy, các cao niên thạo Nho văn ở làng Đại Hoàng hiện nay cho hay: “Chính bởi xuất xứ của ngôi nhà gỗ đặc biệt này lại qua tay những người có máu mặt bậc nhất ở làng “Vũ Đại” lúc bấy giờ sở hữu nên việc ngôi nhà có cái “vía” cao như minh chứng lịch sử đã hiện hữu là có thể dễ hiểu. Đó bởi là trong mỗi con người đều có sẵn cái “vía”, có người “vía” cao, có người “vía” thấp, tương tự như vậy ngôi nhà “Bá Kiến” cũng có số phận như một con người, và có ‘vía’ rất cao”.

Đình làng Thanh Nghĩa mang nét đẹp kiến trúc đặc trưng của một làng quê vùng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam. Nơi đây thờ đức Thánh triều Lý là Lý Công Bình. Ông sinh ngày 25/10/1081 và lớn lên tại thôn Thanh Nghĩa, vốn dòng họ Nguyễn đã đỗ Hoàng Giáp được Vua Lý Thần Tông vời làm quan và gả công chúa Lan Hoa.


Ông cũng là người có công dẹp loạn quân Chiêm Thành bảo vệ bờ cõi. Sử chép rằng, sau khi đánh thắng quân Chiêm Thành, ông được vua ban chức Tướng quốc và phong hiệu là Lý Thiên Vương mang họ Vua. Ông đã xin với nhà Vua cho về quê hương Thanh Nghĩa, Bình Lục để xây dựng tiền đồn chống giặc phía Nam thành Thăng Long và dạy chúng dân chăm lo cầy cấy. Đình được xây dựng cách đây trên 200 năm, toạ lạc trên một khu đất rộng chừng 3 ha, kiến trúc khá độc đáo, những nét trạm trổ hình muông thú, cỏ hoa, trò chơi dân gian trên câu đầu, xà ngang… thể hiện sự tài hoa của các nghệ nhân xưa. Mái đình có 5 hướng, phía trước là ao rộng khoảng trên 2 ha tạo thế uy nghiêm mà trầm mặc, cảnh quan thật tĩnh lặng, nên thơ. Hàng năm, dân làng tổ chức lễ hội vào ngày 25/10 âm lịch để tưởng nhớ công đức của Thành Hoàng đã mang lại thái bình, no ấm cho dân tộc trong đó có dân làng Thanh Nghĩa.

Đình làng Thanh Nghĩa đã có 17 sắc phong của các đời vua (từ Lê sơ đến hết triều Nguyễn). Theo Thần phả của làng, đình còn lưu giữ 14/17 sắc phong. Trải qua các thời kỳ loạn lạc, đặc biệt 02 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ,đình làng được sử dụng làm lớp học, kho thóc, kho súng đạn, nơi làm việc của Huyện uỷ, UBND huyện Bình Lục, Ban Chỉ huy bộ đội an dưỡng. Trong các cuộc chiến tranh, đình làng cũng là nơi dân làng tiễn những người con thân yêu ra tiền tuyến, nơi cung cấp lương thực với khẩu hiệu: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Nhiều người con của làng đã mãi không trở về (14 liệt sỹ chống Pháp, 26 liệt sỹ chống Mỹ, 08 liệt sỹ trong chiến tranh biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế).

Nhiều năm qua, đình làng đã bị xuống cấp, hiện vật trong đình cũng bị hư hỏng, mất mát. Nhưng với tinh thần yêu nước, gìn giữ giá trị văn hoá dân tộc, bà con dân làng dù sinh sống ở đâu trên mọi miền đất nước vẫn luôn nhớ về nguồn cội đã tôn tạo, cúng tiến nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, văn hoá. Năm 2009, đình làng Thanh Nghĩa đã được Nhà nước xếp hạng Di tích cấp Quốc gia.

Sau gần 80 năm gián đoạn, dân làng Thanh Nghĩa lại được tổ chức lễ hội. Năm nay, dân làng tổ chức đón nhận Bằng công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia và tổ chức hội làng trong 03 ngày. Người dân trong làng, người làng ở khắp mọi miền Tổ quốc nô nức, phấn khởi về làng tham dự lễ hội. Nhiều nét văn hoá truyền thống được phục dựng giữ nguyên nét cổ: Lễ rước Thành Hoàng, Công chúa được tổ chức long trọng. Những cỗ kiệu bát cống cổ, kiệu hoa công chúa được bài trí trang nghiêm được các nam thanh, nữ tú trong đội rước diễu hành trịnh trọng. Đội múa rồng, múa sư tử được dàn dựng công phu, biểu diễn hết sức độc đáo thu hút đông đảo người xem, các tiết mục văn nghệ như kịch ngắn, hát văn, hát chèo được nhân dân tán thưởng. Lễ hội trang nghiêm, hoành tráng thể hiện lòng tôn kính của nhân dân đối với các bậc tiền bối, nơi đây tuyệt nhiên không có chỗ cho sự mê tín, dị đoan.

Theo  Dulichvn

I. Di tích khảo cổ học
1.  Mộ cổ
Mộ Lạt Sơn: (sông Bùn, thôn Lạt Sơn, xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng): Đây là loại mộ thuyền, quan tài bằng gỗ, loại bé (dưới 3m-2,97m), niên đại phỏng đoán cuối thế kỷ III đầu II (TCN). Mộ được khai quật tháng 1/1977.
Khu mộ cổ Yên Từ (thôn Yên Từ, xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên): Khu mộ cổ Yên Từ gồm nhiều ngôi mộ. Tháng 8/1980, các nhà khảo cổ đã khai quật được 2 ngôi mộ hình thuyền nằm trong ao, quan tài bằng gỗ, hai nửa thân cây khoét rỗng hình lòng máng úp khít lại với nhau có niên đại 375 TCN. Năm 1986 tiếp tục khai quật được 10 ngôi trong ao, quan tài bằng gỗ, có xu hướng chữ nhật hoá, có niên đại từ thời Tây Hán 136 TCN, đến Hai Bà Trưng 40-43 SCN.
Theo lời kể của người dân, tháng 5/1980 phát hiện được 4 ngôi mộ thuyền, tháng 11/1980 phát hiện được 1 ngôi mộ thuyền.
Mộ cổ Thịnh Châu Hạ: Mộ cổ Thịnh Châu được phát hiện và khai quật 4/1997 ở Thịnh Châu Hạ, Châu Sơn, huyện Kim Bảng. Quan tài bằng hai nửa cây gỗ khoét vũm, lòng máng chứa nhiều hiện vật, có niên đại thế kỷ I SCN.
Mộ thuyền Châu Sơn (Kim Bảng): Không còn mộ. Theo lời kể của dân, sơ bộ nhận định, đây là khu cư trú và mộ táng của người xưa kéo dài từ Hùng Vương đến Bắc thuộc.
Mộ táng cổ Đọi Sơn: Phát hiện từ những năm 80, dân tự di chuyển xương cốt tới một chỗ khác. Mộ được nghiên cứu vào tháng 5/1984, xác định gồm 11 ngôi, có 3 ngôi quan tài bằng thuyền gỗ, 2 ngôi đất kè đá, 4 ngôi áo quan bằng nan tre (một giát giường), 2 ngôi chưa xác định được cấu trúc. Những ngôi mộ này có niên đại khoảng thế kỷ I SCN.
Mộ thời Lê Đọi Sơn: Mộ gồm 2 ngôi, phát hiện vào năm 983 và tháng 5, 1984, quan tài 6 tấm bằng gỗ, có niên đại thời Lê Trung Hưng – Tây Sơn.
2.  Những trống đồng phát hiện trên đất Hà Nam
Trống đồng là một loại nhạc cụ dùng trong các buổi lễ hay khi đánh trận. Trống đồng được tìm thấy ở nhiều nơi trên đất Việt Nam, như Thanh Hóa (Ðông Sơn, 24 trống), Hà Ðông (9 trống), Bắc Ninh, Cao Bằng (mỗi tỉnh 3 trống), Hà Nam, Hà Nội, Hòa Bình, Kiến An (mỗi nơi 2 trống), Nam Ðịnh, Lào Cai, Sơn Tây, Yên Bái, Hải Dương, Nghệ An, Thủ Dầu Một, Kontum (mỗi nơi một trống).
Ở Hoa Nam thì tìm thấy nhiều nhất ở Vân Nam (5 trống). Các tỉnh khác thì Quế Châu, Quảng Tây, Tứ Xuyên (mỗi tỉnh tìm thấy 3 trống), Quảng Ðông (2 trống).
Tại Cămpuchia, Lào, Thái Lan, Miến Ðiện, Mã Lai, Indonexia cũng thấy nhiều trống đồng cổ. Riêng ở Thái Lan và Lào cũng như ở các vùng người Mường (thượng du Việt Nam) ngày nay người ta vẫn còn dùng trống đồng.
Hà Nam là tỉnh có số lượng trống đồng phát hiện được nhiều nhất khu vực đồng bằng Bắc bộ. Tính đến nay, đã phát hiện được 19 chiếc trống đồng cổ, trong đó, huyện Bình Lục phát hiện được 5 chiếc, đặc biệt là trống đồng Ngọc Lũ có niên đại cổ nhất và đẹp nhất trong toàn quốc. Trống đồng Ngọc Lũ I được phát hiện khoảng năm 1893-1894 do người dân thôn Ngọc Lũ phát hiện khi đang đào đất ở bãi cát bồi đê Trần Thủy trên đất xã Như Trác, huyện Nam Xang (nay là huyện Lý Nhân). Theo ý kiến của nhiều học giả trong và ngoài nước, trống đồng Ngọc Lũ được coi là một trong những chiếc trống có kích thước lớn, hoa văn phong phú. Niên đại của trống được xác định là vào khoảng thế kỷ V-IV TCN. Hiện trống được lưu giữ tại bảo tàng lịch sử Việt Nam.

Trống đồng Ngọc Lũ (Bình Lục)
Trống đồng Ngọc Lũ là một trong ít trống đồng đẹp nhất phát hiện được trên thế giới (ngoài các trống đồng Hòa Bình và Hoàng Hạ).
Trống cao 0,63 mét, đường kính mặt trống 0,86 mét, được trang trí bằng các hình trạm sâu xuống cả trên mặt trống lẫn tang trống.
Chính giữa mặt trống là một hình ngôi sao (hay mặt trời) 14 cánh. Xung quanh ngôi sao này là 16 vòng tròn đồng tâm có trang trí bằng nhiều hình kỷ hà hay hình vẽ khác nhau:

Giữa vòng thứ 5 và thứ 6 có khắc hình 2 căn nhà mái cong, có sàn, trong có người tóc dài ngồi. Trước nhà là 4 đàn trống và đoàn vũ nhạc nhảy múa, thổi khèn. Sau nhà có 2 người đang giã gạo.
Xen kẽ với 2 nhà sàn trên là 2 nhà sàn mái tròn trong có người cầm kiếm. Trước nhà này có một người tay phải cầm kiếm, tay trái cầm một con chim. Sau nhà là một đoàn võ sĩ cầm lao, cầm kiếm đang múa.
Giữa vòng thứ 7 và thứ 8 có trạm hình 2 đàn hươu (10 con mỗi đàn) và xen kẽ với 2 đàn chim đang bay (mỗi đàn 8 con).
Giữa vòng thứ 8 và thứ 9 có khắc 18 con chim mỏ dài đang bay, xen kẽ với 18 con chim đang đậu dưới đất.
Trên tang trống, phần phình ra có khắc hình thuyền trên có những người cầm lao, kiếm, cung, đang chuẩn bị chiến dấu, hoặc đang nhảy múa hoặc chèo thuyền.
Trên phần thẳng đứng có những đường trang trí kỷ hà thẳng đứng hay nằm ngang đóng khung lấy những hình người cầm rìu và lá chắn.
Ngoài chiếc trống đồng Ngọc Lũ I, tại Ngọc Lũ còn phát hiện thêm 2 chiếc trống đồng nữa. Chiếc trống thứ tư được phát hiện tại Bình Lục là trống Vũ Bị (phát hiện ở thôn Vũ Bị, nay là thôn Đại Vũ) vào năm 1969.
Chiếc trống thứ 5 gọi là trống An Lão được phát hiện ở núi Nguyệt Hằng xã An Lão, huyện Bình Lục vào năm 1985.
Ngoài ra, cách đây hơn 100 năm, tổng đốc Nam Định là Vũ Văn Bảo đã tặng cho thôn Yên Tập, xã Phú Đa, huyện Bình Lục 1 chiếc trống đồng. Như vậy, tổng số trống đồng ở Bình Lục là 6 chiếc.
Duy Tiên là huyện phát hiện được nhiều trống đồng nhất trong toàn tỉnh, chiếm 9 trong tổng số 18 chiếc được phát hiện ở Hà Nam. Trong số đó có 1 chiếc đang được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, 3 chiếc được bảo quản tại Bảo tàng tỉnh, 1 chiếc để tại xã Yên Bắc, 4 chiếc để trong kho của UBND huyện.
Kim Bảng phát hiện được 4 chiếc trống đồng ở các thời kỳ khác nhau. Đó là trống Bút Sơn I, Bút Sơn II, trống Tượng Lĩnh và trống Kim Bảng. Cả 4 chiếc trống này đang nằm trong kho của công an huyện Kim Bảng.
II.  Một số di tích khác

Bia ma nhai (bia khắc vào đá tự nhiên) thôn Lạt Sơn, huyện Kim Bảng. Đây là 3 tấm bia được khắc trực tiếp lên một khối đá tự nhiên nặng khoảng vài tấn nổi lên trên mặt đất. Ba bia cùng nằm trên một mặt phẳng, có kích thước khác nhau, cùng hướng vào vách đá. Cả ba tấm bia đều có hình chữ nhật, chữ bị mờ nhiều. Bia thứ nhất là Bia Thượng điện ở chùa Thập địa động tiên Thành Chân được khắc năm 1671, triều Dương Đức đời vua Lê Gia Tông. Bia thứ hai cũng là bia ghi nhớ công đức được soạn năm 1672 vào triều Dương Đức, vùa Lê Gia Tông. Bia thứ ba là Bia Vệ lệ của họ Dương Thánh Hội tiên kính Phật chầu trời được soạn vào năm 1672 triêu Dương Đức vua Lê Gia Tông. Nội dung cả ba tấm bia đều là ghi lại sự hảo tâm công đức xây dựng chùa của các dòng họ, của thiện nam tín nữ trên đất Hà Nam và khách thập phương.
Sách đồng: Đây là một quyển sách bằng đồng do người dân xã Bắc Lý phát hiện ra, hiện nay sách được lưu giữ tại nhà ông Nguyễn Văn Thủy, thôn Văn An, xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân. Đây là một trong 4 quyền sách bằng đồng còn lại ở nước ta.
Sách được làm bằng đồng lá màu đen dài 45 cm, rộng 18,5 cm, dày 5 cm, gồm 2 lá đồng có kích thước bằng nhau. Trên cả bốn mặt của 2 lá đồng là những dòng chữ Hán khắc chìm, tổng cộng có 527 chữ. Nội dung của quyền sách đồng này là bài ký (soạn năm Hồng Đức thứ 3, 1472) về việc vua Lê Thánh Tông cho xây dựng Cầu Không (bắc qua sông Long Xuyên, nối dòng sông Hồng với sông Châu), việc dựng cầu trên đền, và việc bao phong cho thần đền là Thượng đẳng linh thần vì nhờ công âm phù của thần mà nhà vua đại thắng trọng trận đánh Chiêm Thành năm Canh Dần (1470). Sau cùng là các tụo lệ thờ cúng. Quyền sách đồng này cho chúng ta biết một kiểu kiến trúc độc đáo: Thượng gia hạ kiều, từng tồn tại trên đất Hà Nam, một mảnh đất xưa kia nổi tiếng với các cây cầu trong câu phương ngôn: Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài.
Ngày nay, đền Cầu Không không còn, cây cầu cũng đã được dựng bằng bê tông cốt thép, tuy nhiên kiểu kiến trúc của nó còn thấy được tại chiếc cầu ở xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (được xây dựng vào thời vua Lê Hồng Thuận, 1509-1515). Tương truyền, cũng trên dòng sông Long Xuyên, cách đây 200 năm, đã từng tồn tại một cây cầu Thương gia hạ kiều thuộc địa phận thôn Phú Khê, xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân. Chúng ta còn có thể thấy dấu tích của kiểu kiến trúc cầu này ở Bình Lục, căn cứ vào tâm bia “Vị thị kiểu bi” (Bia cầu chợ Vị) làm năm Chính Hoà thứ 22 (1701) đặt trước đình Vị Hạ (xã Trung Lương, huyện Bình Lục) ghi về việc sửa chữa cầu “Thượng gia hạ kiều” cũng không còn nữa. Ngoài kiểu cầu này, trên đất Hà Nam xưa còn có nhiều cây cầu cổ bằng đá như cầu đá chợ Nghĩa (xã Đồn Xá, Bình Lục), cầu Triểu Quan, cầu Chùa, cầu Đinh ở thôn Thanh Nghĩa (Bình Lục) đều không còn. Qua khảo sát, hiện thấy chỉ còn lại ở Bình Lục cây cầu đá ở xã Đinh Xá, văn bia cho biết được khởi công vào ngày lành tháng 6 năm Bình Thìn Minh Mệnh năm thứ 20 (1840).
Hang Gióng Lở (Thôn Bồng Lang, xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm ) là nơi cư trú của con người vào cuối thời đại đồ đá mới - đầu thời đại đồ đồng.
Dấu tích ngôi nhà sàn trước công nguyên (xã Mộc Nam huyện Duy Tiên).

Theo Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam

Những thân cây rậm rạp trong khu rừng này đang là một miếng mồi béo bở cho bọn lâm tặc. Khu rừng là một kho báu lớn.


Tôi và ông Viễn đi miên man qua các vách đá, vạch những bụi rậm tìm loài cây bạc tỷ. Ông Viễn bảo, cứ cây nào thân nhẵn thín, có màu vàng nhạt, đích thị là cây sưa. Có những chỗ, gốc sưa cứ xin xít nhau, tán lá phủ trùm, chen chúc nhau trong một không gian chật hẹp.

Tôi hỏi ông Nguyễn Trung Thành, Trưởng ban Quản lý Đền Trúc – Ngũ Động Sơn (Thi Sơn, Kim Bảng, Hà Nam) rằng, việc đưa thông tin khu rừng sưa này lên báo, liệu có vẽ đường cho lâm tặc, ông Thành bảo rằng, chẳng đưa ra ngôn luận thì đám “sưa tặc” cũng biết cả rồi. Người dân còn chưa biết, chính quyền còn chưa hay, hoặc chưa có sự quan tâm đúng mức, thì lâm tặc đã tìm mọi cách triệt hạ.

Những cây gỗ sưa lớn, nằm ở vị trí thuận lợi, nhất là ở vạt núi ven sông Đáy, đều đã bị “sưa tặc” cưa sạch. Hiện chỉ còn lại những cây sưa ở trên đỉnh núi, sườn Tây, những chỗ hiểm trở, mà lâm tặc chưa có điều kiện đốn hạ mà thôi.

Việc đưa thông tin này lên báo, các cựu chiến binh mong muốn chính quyền các cấp quan tâm hơn nữa, tìm cách quản lý giúp các cựu chiến binh già, sớm có biện pháp bảo vệ loài cây quý giá trước lòng tham của lâm tặc.

Khu rừng sưa trên núi Cấm thực ra mới được phát hiện vào năm 2006. Sau khi tham quan núi Cấm, một du khách đã thông báo với ban quản lý di tích: “Trên núi Cấm bạt ngàn cây sưa, các cụ nên thông báo với chính quyền để có cách quản lý, trông nom, chứ cứ để tơ hơ giữa trời thế này thì sớm muộn cũng mất hết”.

Từ hàng trăm năm nay, người dân thôn Quyển Sơn và xã Thi Sơn cũng chỉ biết đến một loài cây lạ trên núi. Chẳng ai trồng loài cây này, mà chúng mọc tự nhiên trên đá. Hàng năm, cứ đến mùa xuân, cả ngọn núi Cấm trắng muốt một màu hoa. Tuy nhiên, họ không hề biết rằng đó là cây sưa đỏ, một loài cây cho gỗ có giá vài tỷ đồng một mét khối lõi.

Ông Nguyễn Trung Thành kể rằng, dường như loài cây này chẳng chịu lớn. Cách đây vài chục năm, ông đã thấy thân chúng lớn chừng hơn vòng tay người ôm và đến bây giờ nó vẫn vậy, chẳng có khác biệt nào.

Người dân Quyển Sơn thường lên núi Cấm lấy củi, song không bao giờ chặt cây sưa. Lý do, rìu, dao bổ vào gốc cây, cứ quằn cả lưỡi, chẳng khác gì bổ vào đá. Một số người cưa gốc cây về, kỳ công chẻ ra, song đốt mãi chẳng cháy lại vứt đi. Trong con mắt của người dân nơi đây, loài “gỗ tạp” này chẳng có tác dụng gì, nên dù dân chúng có đói cũng chẳng thèm chặt.
Gốc sưa mới bị lâm tặc cưa trộm.

Thời gian đó, tự dưng thấy loài “cây lạ” bị đốn hạ nhiều, lại được nghe lời cảnh báo của vị du khách, nên các cựu chiến binh trông nom khu di tích đã báo cáo với lãnh đạo xã và âm thầm tiến hành kiểm tra. Các cụ đã mang quả loài cây này cùng mẫu lá đến gặp các nhà khoa học để nhờ xác minh, đối chứng. Kết quả, loài cây lạ trên núi Cấm đúng là sưa đỏ, loài cây mà các “sưa tặc” đang ráo riết truy lùng, cưa trộm, bán sang Trung Quốc.

Ngay lập tức, thông tin về khu rừng sưa được báo cáo lên cấp trên. Ngọn núi Quyển Sơn lập tức được đổi tên thành núi Cấm, khu rừng trên núi thành khu rừng cấm, với ý nghĩa cấm ra vào, cấm xâm phạm, chặt phá… Rất nhiều câu chuyện huyền thoại được dựng lên, như chuyện ông A vào rừng đốn củi bị tai nạn giao thông, bà B lên núi lấy đá làm cảnh bị tâm thần…

Tuy nhiên, những câu chuyện hãi hùng về sự xâm phạm núi Cấm chỉ dọa được người dân cả tin, chứ không dọa được đám “sưa tặc”. Kể từ ngày loài sưa đỏ có giá bạc triệu, bạc tỷ, đám “sưa tặc” đã biết đến sự tồn tại của khu rừng sưa này. Thi thoảng lại có một gốc sưa biến mất, cứ như thể nó bị bốc hơi.
Từ gốc sưa bị chặt trộm, những cái nhánh lại mọc lên.

“Hoành tráng” nhất là vụ trộm xảy ra vào cuối năm 2008. Chừng nửa đêm, ông Thành cùng các cựu chiến binh đang ngủ trong đền, bỗng nghe thấy tiếng động trên núi, giống tiếng cưa xẻ. Các cựu chiến binh lập tức mang đèn pin, gậy gộc chạy lên núi Cấm. Tuy nhiên, lên đến nơi, thì không thấy bóng người nào cả, chỉ thấy mặt nước sông Đáy vẫn đang xao động. Mọi người đoán rằng “sưa tặc” đã bỏ trốn.

Chạy tiếp lên phía rừng sưa, các cựu chiến binh đã choáng váng khi thấy 30 cây sưa bị đốn hạ. Cây nào cây nấy đều đã được cưa thành khúc, to như cột nhà, lõi đỏ chót như máu. Những cây sưa này đều đã lâu năm vì lõi rất dày, sát đến vỏ.

Các cựu chiến binh đã thông báo cho chính quyền, hôm sau, họ chở đống gỗ sưa này đi. Giờ đống gỗ sưa ấy nằm ở đâu, cũng chẳng ai biết, cũng chẳng bắt được tên trộm nào.

Các cựu chiến binh dẫn tôi xuyên qua khu rừng trúc, vòng lên sườn núi Cấm phía sông Đáy. Theo lời các cựu chiến binh, trước đây, sườn núi ven sông Đáy tập trung rất nhiều cây sưa, tuy nhiên, giờ đây, ở sườn núi này, chẳng còn bóng dáng cây sưa nào nữa. Các cựu chiến binh vạch lớp lá khô, chỉ cho tôi xem những gốc cây còn lại, chìm trong lòng đất, kẽ đá, vẫn còn màu gỗ đỏ thẫm.

Những cây sưa nằm ở vị trí này rất dễ bị trộm cắp. Bọn “sưa tặc” chỉ việc chèo thuyền áp sát chân núi, rồi tiến hành cưa trộm. Dù các cựu chiến binh nghe thấy tiếng động, chạy lên đến nơi, thì chúng đã biến mất cùng với một vài thân cây rồi.
Cụ Nguyễn Trí Viễn bên những gốc cây sưa trị giá tiền tỷ.

Ông Nguyễn Trí Viễn, hiện đã 75 tuổi, song vẫn leo núi phăm phăm, dẫn tôi vòng qua sườn Tây núi Cấm. Càng đi, rừng càng rậm rạp, núi càng hiểm trở. Những vách núi dựng đứng, đá nhọn lởm chởm như tai mèo. Quả thực, với địa hình như thế này, bọn lâm tặc khó mà “đánh nhanh thắng nhanh” được. Chắc vì thế mà sườn núi phía Tây vẫn còn chi chít, bạt ngàn gỗ sưa.

Tôi và ông Viễn đi miên man qua các vách đá, vạch những bụi rậm tìm loài cây bạc tỷ. Ông Viễn bảo, cứ cây nào thân nhẵn thín, có màu vàng nhạt, đích thị là cây sưa. Có những chỗ, gốc sưa cứ xin xít nhau, tán lá phủ trùm, chen chúc nhau trong một không gian chật hẹp.
Trên núi Cấm với đá tai mèo lởm chởm, chỉ có loài sưa là cây thân gỗ lớn nhất.

Tôi hỏi các cựu chiến binh quản lý rừng sưa rằng, núi Cấm có bao nhiêu cây sưa, các cựu chiến binh bảo: “Chịu thôi, không biết được, nó mọc rải rác khắp ngọn núi!”. Lúc đầu, tôi nghĩ các cựu chiến binh giấu thông tin, nên không nói số lượng cây sưa, chứ những cây sưa, cây nào cây nấy đều trị giá tiền tỷ, sao lại không biết. Tuy nhiên, có vào rừng sưa, mới thấy khó lòng đếm xuể.

Sau khi cuốc bộ một vòng quanh núi Cấm, tận mắt khu rừng sưa quý hiếm, tôi thấy số phận những gốc sưa thật mong manh. Nói là núi đá tai mèo lởm chởm, khó đi, chứ với lâm tặc thì những đại ngàn xa xôi hiểm trở nhiều ngày cuốc bộ, chúng còn xẻ gỗ vác ra được, nói gì đến cái núi Cấm bé tẹo mọc lên giữa cánh đồng chiêm trũng này. Bọn lâm tặc chưa sờ đến những gốc sưa bạc tỷ này là do chúng chưa có cơ hội mà thôi.
Liệu ngọn núi đá dựng đứng này có ngăn được lòng tham của lâm tặc?

Trao đổi với anh Đinh Văn Tuyến, Trưởng Công an xã Thi Sơn, về công tác bảo vệ rừng sưa quý hiếm trên núi Cấm, anh Tuyến bảo rằng, sau vụ lâm tặc đốn hạ mấy chục cây sưa phía sông Đáy, công an huyện đã chỉ đạo công an xã phối hợp với các cựu chiến binh quản lý chặt chẽ rừng sưa.

Anh em công an xã được tăng cường trực tiếp bảo vệ rừng sưa vào những thời kỳ cao điểm. Thời kỳ cao điểm là những lúc có cơn sốt gỗ sưa, hoặc khắp nơi rộ lên tình trạng trộm sưa. Còn những ngày bình thường, việc trông rừng sưa giao cho 5 cựu chiến binh già. Công an sẽ tham gia khi có tin báo từ các cựu chiến binh.

Ông Nguyễn Trung Thành cho hay: “Các cựu chiến binh vẫn phân công thay nhau mỗi ngày vài lần đi vòng quanh núi để trông nom rừng sưa. Tuy nhiên, nếu lâm tặc cố tình tìm cách đốn hạ, thì có trời mà biết”. Cũng theo ông Thành, gần đây, xuất hiện vài kẻ lạ mặt có biểu hiện nghi vấn, suốt ngày vật vờ theo chân các cựu chiến binh và lực lượng công an xã. Chỉ cần một chút lơ là của các cựu chiến binh, những gốc cây bạc tỷ sẽ bốc hơi lập tức.

Rừng sưa với những gốc cây bạc tỷ trên núi Cấm dường như vẫn đang bị phó mặc cho lâm tặc…

Theo 24h.com.vn

Ngày 20/10/1890, tỉnh Hà Nam chính thức được thành lập. Đất đai tỉnh Hà Nam gồm đất phủ Liêm Bình, 17 xã của huyện Vụ Bản, Thượng Nguyên (thuộc tỉnh Nam Định), 2 tổng Mộc Hoàn, Chuyên Nghiệp thuộc huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Nội (cho nhập vào huyện Duy Tiên) và 2 huyện cũ là Duy Tiên, Kim Bảng của phủ Lý Nhân.

Từ khi thành lập đến nay, trải qua 118 năm, địa danh và địa giới hành chính của tỉnh đã có nhiều thay đổi. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tỉnh thuộc liên khu III. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo kháng chiến của hai tỉnh Nam Định và Hà Nam, tháng 5/1953, Trung ương quyết định cắt các huyện phía Bắc tỉnh Nam Định gồm Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và 7 xã phía Bắc Nghĩa Hưng nhập vào tỉnh Hà Nam; chuyển châu Lạc Thuỷ về tỉnh Hoà Bình. Tháng 4/1956, sau giảm tô và cải cách ruộng đất, 3 huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc và 7 xã của Nghĩa Hưng sát nhập trở lại tỉnh Nam Định. Năm 1956, tỉnh Hà Nam và Nam Định sát nhập thành tỉnh Nam Hà. Đầu năm 1976, Nam Hà sáp nhập với tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh. Năm 1992, tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình lại chia tách như cũ. Ngày 1/1/1997, tỉnh Hà Nam được tái lập, gồm các huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên, Kim Bảng và thị xã Phủ Lý.

Tên tỉnh Hà Nam tuy mới có 118 năm, song vùng đất này từ rất sớm đã có những đặc thù, đặc điểm riêng. Với bốn mặt đều có sông bao bọc, dòng sông Đáy chia địa hình Hà Nam làm hai vùng rõ rệt: vùng đồng chiêm trũng và dải đá trầm tích ở phía Tây. Ở vùng đồng bằng có nhiều đồi núi với cảnh quan đẹp: Núi Đọi, núi Điệp ở Duy Tiên; núi An Lão (Nguyệt Hằng Sơn) ở Bình Lục; núi Non, núi Chanh Chè ở Thanh Liêm… Trung tâm tỉnh là nơi hội tụ của 3 con sông: sông Đáy, sông Châu, sông Nhuệ (ngã ba sông). Ở trong dãy núi đá vôi phía Tây có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp đã đi vào thơ ca: Ngũ động sơn, hang Luồn - ao Dong, đầm Ngũ Nhạc, núi Ngọc, Bát cảnh tiên, dốc Cổng Trời, động Phúc Long, Kẽm Trống, hang Gióng Lở…Trải qua chiều dài lịch sử, cố nhân đã để lại cho Hà Nam nhiều di sản văn hoá vật thể vô cùng quý giá: Trống đồng Ngọc Lũ - dấu ấn thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền văn hoá Đông Sơn; cuốn sách đồng Bắc Lý - một trong 4 cuốn sách còn nguyên vẹn nhất, nội dung phong phú nhất của cả nước, tấm bia “Sùng Thiện Diên Linh”, tấm bia “Đại Trị”… Hà Nam có 1.784 di tích trong đó có 65 di tích xếp hạng cấp quốc gia, 39 di tích xếp hạng cấp tỉnh.

Bên cạnh những giá trị văn hoá vật thể, Hà Nam cũng là quê hương của những làng nghề thủ công truyền thống với các làng nghề nổi tiếng như: lụa Nha Xá; mây tre đan Ngọc Động; sừng Mỹ nghệ Đô Hai; thêu ren An Hoà, Hoà Ngãi; rũa cưa Đại Phu - An Đổ; mộc Cao Đà; gốm Đanh Xá, Quyết Thành; trống Đọi Tam…Hà Nam cũng là quê hương của nhiều lễ hội truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc. Toàn tỉnh có 100 lễ hội, trong đó có 5 lễ hội vùng được tổ chức quy mô của lễ hội truyền thống. Các nghi thức tế lễ, rước, trò chơi dân gian, sinh hoạt nghệ thuật dân gian được tổ chức long trọng, sinh động, tăng cường tính cộng đồng, cộng cảm của làng xã như: Lễ hội đền Trần Thương; Lễ hội chùa Đọi; Lễ hội đền Trúc - Ngũ Động Sơn; Lễ hội vật võ Liễu Đôi…

Hà Nam là một trong những cái nôi của nền nghệ thuật truyền thống đang được kế thừa và phát huy như: chiếu chèo làng Ngò, chiếu chèo làng Hoà Ngãi, chiếu chèo làng Thọ Chương (huyện Lý Nhân); chiếu chèo Đồng Hoá (huyện Kim Bảng); chiếu chèo Châu Giang (huyện Duy Tiên); hát tuồng Bạch Thượng (Duy Tiên), An Thái (Bình Lục). Bên cạnh đó Hà Nam còn có vốn dân ca mang đậm những nét riêng như: múa hát dậm Quyển Sơn, Kim Bảng; múa hát Lải Lèn, Lý Nhân; dân ca giao duyên vùng ngã ba sông Móng…

Là vùng đất có bề dầy truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, Hà nam tự hào có Thập đạo tướng quân Lê Hoàn đã có công dẹp loạn 12 sứ quân, xây dựng cơ đồ nhà Đinh, đập tan quân Tống lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là vua Lê Đại Hành. Cuộc đời của ông luôn gắn liền với mảnh đất Liêm Cần, nơi đặt chỉ huy quân đội, nơi luyện quân. Trần Bình Trọng, người con của quê hương Bảo Thái (nay là xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm) mãi lưu danh trong sử sách với câu nói nổi tiếng: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vưong đất Bắc”. Ông bị giặc giết lúc 26 tuổi, được truy phong Bảo nghĩa vương. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh, Hà Nam là một trong những căn cứ quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn, tiêu biểu là Tướng quân Vũ Cố (Thanh Thuỷ, Thanh Liêm) đã cùng với Lê Lợi xây dựng căn cứ Đồng Ao đánh giặc… Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phát huy truyền thống đánh giặc của ông cha, Đinh Công Tráng, người quê Nham Tràng, Thanh Liêm; Lê Hữu Cầu, Nhật Tân, Kim Bảng; Đinh Văn Nghiêm (Đề Yêm), Đồng Hoá, Kim Bảng đã đứng lên kêu gọi văn thân, chiêu mộ nghĩa quân, dựng cờ đánh Pháp…Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nhân dân Hà Nam luôn đoàn kết một lòng đi theo Đảng đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương. Ngay từ năm 1930, nông dân Hà Nam đã đứng lên đấu tranh bằng cuộc biểu tình, tuần hành ngày 20/10/1930 tại Bồ Đề (Bình Lục), mở đầu cho các cuộc nổi dậy của nông dân trong tỉnh. Hà Nam tự hào có Nguyễn Hữu Tiến, người vẽ lá cờ Tổ quốc, đã  bị địch bắt và bị xử bắn ngày 28-8-1941 cùng các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa là  Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Vǎn Tần, Hà Huy Tập... Trong trường kỳ chống Pháp, nhân dân Hà Nam vừa chiến đấu, vừa tích cực tăng gia sản xuất, không những xây dựng nền kinh tế tự cấp, tự túc để nuôi quân dân kháng chiến lâu dài mà còn đóng góp hàng ngàn tấn lương thực để nuôi quân trên các chiến trường, tiễn đưa hàng vạn con em lên đường nhập ngũ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân Hà Nam với tinh thần vì miền Nam ruột thịt, nghe theo tiếng gọi của Đảng, lớp lớp thế hệ thanh niên Hà Nam đã tình nguyện lên đường vào Nam chiến đấu. Hà Nam luôn là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, đảm bảo “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, nhiều người con của quê hương đã anh dũng hy sinh như: ; 9 cô gái Phù Vân; 12 cô gái Lam Hạ ...

Cùng với bề dầy truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, Hà Nam còn là mảnh đất có truyền thống hiếu học. Kể từ khoa thi đầu tiên (1075) đến khoa thi cuối cùng (1919) toàn tỉnh đã có 53 người đỗ đạt ở 36 khoa thi. Người đỗ cao nhất là Nguyễn Quốc Hiệu (Phú Thứ, Duy Tiên) đạt học vị Thám hoa, người đỗ khoa bảng trẻ nhất là Phan Tế (Duy Tiên) đỗ học vị Tiến sỹ khi mới 19 tuổi, người đỗ ở tuổi cao nhất là Trương Minh Lượng (Duy Tiên) đỗ Tiến sỹ năm 65 tuổi, người đỗ đầu 3 kỳ thi là Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến…Truyền thống hiếu học và tài năng của nhân dân Hà Nam tiếp tục được giữ gìn, phát huy cao độ từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Hà Nam tự hào có Phạm Tất Đắc với tập “Chiêu hồn nước” bất hủ; Nguyễn Thượng Cát với bản lược dịch “Tư bản luận”; Nam Cao - Nhà văn liệt sỹ, người đầu tiên được giải thưởng Hồ Chí Minh vì những cống hiến to lớn đối với sự nghiệp văn học nước nhà. Hà Nam tự hào với tiếng trống Bắc Lý, nơi khởi nguồn của phong trào “Dậy tốt, Học tốt”.

Phát huy truyền thống lịch của cha ông, trong những năm qua, Đảng bộ, quân và dân Hà Nam tích cực thi đua lao động sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Đảng bộ quân và dân Hà Nam luôn thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, đóng góp vào thành công của hai cuộc kháng chiến và trong thời kỳ đổi mới thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với những đóng góp đó, Đảng bộ quân và dân Hà Nam cùng 6/6 huyện, thành phố vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều danh hiệu cao quý khác. Năm 2008 này, thị xã Phủ Lý vinh dự được đón nhận Huân chương Lao động Hạng ba của Nhà nước trao tặng, được Chính phủ công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh.

Sau hơn 10 năm tái lập tỉnh, Đảng bộ, quân và dân Hà Nam luôn đoàn kết một lòng, nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế xã hội. Từ sau khi tái lập tỉnh năm 1997 đến nay, kinh tế - xã hội Hà Nam đã có những bước tiến vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu quan trọng với tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 9%. Kinh tế - xã hội Hà Nam đang khởi sắc, cơ chế chính sách đầu tư khá hấp dẫn, sẵn sàng mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong 9 tháng đầu năm 2008, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) ước đạt 2.889,2 tỷ đồng, tăng 14,34% so với 9 tháng năm 2007; Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tiếp tục phát triển, giá trị sản xuất năm 2008 ước thực hiện 1.767 tỷ đồng, tăng 4,3% so với năm 2007, đạt 100,02% Kế hoạch năm; Giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh 9 tháng ước thực hiện 3.805 tỷ đồng, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm 2007, đạt 74,2% Kế hoạch năm; Ước tính giá trị xuất khẩu 9 tháng năm 2008 đạt 96.565,5 ngàn USD, bằng 96,6% Kế hoạch năm, tăng 38,3% so cùng kỳ năm trước. Tỉnh đã giải quyết việc làm cho khoảng 9.500 nghìn người, đạt 70,4% kế hoạch năm; Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh dự tính đến hết tháng 9 còn 9,1%, giảm 1,54% so với năm 2007… Đến nay, Hà Nam đã có 05 khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung. Thời gian tới, tỉnh sẽ tập trung làm tốt công tác quy hoạch các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ, phấn đấu đưa Hà Nam trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020, là đô thị loại I sau năm 2025.

 Trên cơ sở những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức, tiềm năng và triển vọng, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh sẽ tập trung mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội,  đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo bước đột phá trong phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa công nghệ mới vào sản xuất và đời sống, không ngừng chăm lo đời sống tinh thần cho nhân dân. Qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVII đề ra, xây dựng tỉnh Hà Nam sớm trở thành một tỉnh giầu về kinh tế, vững mạnh về an ninh quốc phòng, có lối sống văn minh, cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X./.